Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 10/11/2009 18:39 (GMT+7)

Cây biến đổi gen GM

Chỉ trong 7 năm, từ năm 2000 đến năm 2007, nông nghiệp Việt Nam đã “mất” trên 500.000ha vì quá trình này.

Với việc tăng/giảm như vậy, thế giới cần phải sản xuất một lượng lương thực nhiều gấp đôi để nuôi 8 tỷ người vào năm 2025, nhiều gấp ba để nuôi 10 tỷ người vào năm 2050.

Kể từ khi Crick & Watson lập được bản đồ ADN (1953), ngành công nghệ sinh học (CNSH) đã gặt hái nhiều tiến bộ vượt bậc trong đó di truyền tạo giống đã có những bước đi ngoạn mục. Kỹ thuật biến đổi gen đã cho thấy có khả năng tạo một bước nhảy vọt, hơn hẳn kỹ thuật tạo giống cổ điển Mendel trong cuộc “cách mạng xanh” của thập niên 60 của thế kỷ trước, mà nay đã kịch trần, không còn có khả năng tăng năng suất cao như trước (75%), chỉ còn khoảng 1,5%/năm. 

Kỹ thuật biến đổi gen không những tăng năng suất và chất lượng cây trồng (nhờ chống sâu bệnh hại, chịu khí hậu nóng lạnh, cỏ dại, kéo dài thời gian bảo quản…) mà còn cải thiện được môi trường (giảm lượng sử dụng phân bón và thuốc BVTV), bảo vệ sức khoẻ của nông dân (ít tiếp cận với hoá chất và thuốc BVTV) và người tiêu dùng (thức ăn không có dư lượng hoá chất).

Sau khi các công ty sinh học Calgene và Monsanto(Hoa Kỳ) nghiên cứu thành công và đưa ra thị trường hàng loạt giống cây biến đổi gen có nhiều ưu điểm như khả năng kháng sâu bệnh và chịu được thuốc trừ cỏ dại thì việc sử dụng cây biến đổi gen bùng nổ, trở thành một nhóm cây được phát triển đại trà nhanh nhất trong lịch sử nông nghiệp thế giới.

Chỉ trong vòng 13 năm từ 1995 đến 2008, diện tích canh tác các loại cây nông nghiệp biến đổi gen đã tăng vọt từ 1,6 triệu ha lên 125 triệu ha. Trong đó nhiều nhất là Hoa Kỳ (63%), Argentina (21%), Canada (6%), Ấn Độ (8%), Brasil (4%), Trung Quốc (4%) và Nam Phi (1%)… Ở Hoa kỳ nông dân đã sử dụng rất nhiều giống cây biến đổi gen, ví dụ như đậu tương, chiếm 89% tổng diện tích canh tác, bông vải (83%), cải dầu (75%), ngô (60%), đu đủ Hawaii (+50%), và một ít các giống cà chua, mía, củ cải đường, và lúa gạo v.v… Tuy chỉ có 22 loại cây được biến đổi gen nhưng chúng đã có mặt hầu như trong tất cả 500 loại thực phẩm được bày bán trong siêu thị Hoa Kỳ, từ thức ăn trẻ em, sôcôla, khoai tây chiên, đến các món mì Ý, bánh ngọt, bánh mì. 

Tuy ồ ạt như thế nhưng khác với công nghệ máy tính và điện thoại di động được cả thế giới vồ vập săn đón, thì công nghệ di truyền - đặc biệt là thức ăn biến đổi gen - lại gặp nhiều phản ứng khác nhau của giới tiêu thụ, mà trong đó Âu châu và Nhật chống đối mạnh mẽ nhất, Úc và Tân Tây Lan thì dè dặt hơn, cho phép tiêu thụ nhưng phải dán nhãn. Riêng Phi châu - nơi hằng năm nạn đói thường xảy ra - thì phản ứng lại rất gay gắt. Năm 2003, Chính phủ Zambia từ chối không nhận viện trợ LHQ chỉ vì ngô viện trợ là thức ăn biến đổi gen. Hành động này đã làm cho nạn đói của Zambia trở nên quá tồi tệ nên năm 2005 Chính phủ phải thay đổi thái độ, nhận lại viện trợ, trong khi Bộ trưởng Nông nghiệp Zambia vẫn khẳng định luật cấm thức ăn biến đổi gen vẫn còn hiệu lực. Ông nói: “Chúng tôi không muốn thức ăn biến đổi gen và chúng tôi hy vọng rằng tất cả chúng ta đều tiếp tục sản xuất thức ăn không biến đổi gen”. 

Mười ba năm tuy chưa phải là một chặng đường dài để kết luận về cây biến đổi gen. Nhưng với chừng đó thời gian, chúng ta cũng đã thấy được một số kết quả sau đây đáng để tham khảo: 

1. Năng suất: Trong tất cả các giống cây biến đổi gen hiện đang sử dụng, chưa có giống nào đặt mục tiêu trực tiếp tăng năng suất vì không có gen năng suất cao. Năng suất cây biến đổi gen chỉ cao hơn cây bình thường nếu cây bình thường không được phun xịt để chống cỏ dại hoặc sâu bệnh. Tổng kết 8.200 nghiên cứu ở các đại học Hoa Kỳ cho thấy giống RR đậu nành đạt năng suất kém hơn giống đối chứng 7-10% (Brendrook, 1999). 

2. Lai tạp: Nghiên cứu cho biết sẽ xảy ra sự lai tạp giữa cây biến đổi gen và giống cây dại cùng họ. Nghiên cứu của nhóm Giáo sư Alison Snow tại đại học Ohio, Hoa Kỳ đã chứng minh có sự lai tạp giữa giống hướng dương “Round-Up Ready Sunflower” với giống hướng dương dại. Giống hướng dương lai tạp này đã cho hạt nhiều hơn 50% giống thương phẩm lại không bị thuốc diệt cỏ Round Up khống chế.

Nghiên cứu trên giống RR canola (cải dầu) cũng có kết quả tương tự. Như vậy, giống cỏ lai tạp đã trở thành “siêu cỏ dại - super weed” vì nó chống luôn cả Round Up. 

Công nghệ chuyển gen sẽ tạo giống cây cho năng suất và chất lượng cao hơn.
Công nghệ chuyển gen sẽ tạo giống cây cho năng suất và chất lượng cao hơn.

3. Giống và bản quyền về giống: Giống biến đổi gen không có giống thuần (OP) và F1 hybrid như thông thường mà là giống chuyển gen do công ty giống thực hiện và quản lý. Ví dụ Công ty Monsanto của Hoa Kỳ - một đại gia về giống chuyển gen - có một quy trình khắt khe trong việc bán và quản lý giống của họ bởi vì chi phí để sản xuất một giống biến đổi gen rất tốn kém, lên đến hàng triệu đôla (giống cà chua GM Flavr Savr tốn đến 2,5 triệu USD).

Ai muốn trồng giống biến đổi gen thì phải mua và ký hợp đồng với công ty sản xuất. Giống giống biến đổi gen không ăn cắp được vì họ đăng ký bản quyền trên gen, không trên giống, cho nên chỉ cần có bản đồ ADN là kiện được người ăn cắp ngay.

Vụ Monsanto Canada kiện nông dân Schmeiser năm 2004 ở Toà Thượng thẩm Canada là một dẫn chứng nói lên sự cứng rắn của Công ty Monsanto trong việc bảo vệ quyền lợi của họ. Như vậy một khi trồng cây biến đổi gen thì nông dân bị ràng buộc với công ty sản xuất giống, không phải lơ mơ như ta thường làm, chạy ra cửa hàng đại diện mua dăm ba gói hạt giống là xong.

Monsanto và DuPont là 2 công ty của Hoa Kỳ, kiểm soát đến 38% thị trường giống thế giới cho nên nếu Việt Nam trồng các loại cây biến đổi gen thông dụng như đậu nành, ngô, bông biến đổi gen thì xác suất bị ràng buộc với công ty giống của Hoa Kỳ rất cao, y như ta đang bị ràng buộc với giống lúa lai Trung Quốc, mỗi năm phải nhập đến 9.000 tấn lúa giống. 

4. Cách ly hay không cách ly - truy nguyên nguồn gốc: Ở Hoa Kỳ và Canada, Chính phủ không yêu cầu dán nhãn trên sản phẩm nên nông dân muốn trồng cây biến đổi gen hay không thì chỉ tùy người mua. Bán được là trồng. Nhưng ở các nước khác như toàn bộ Âu châu, Nhật, Úc, Tân Tây Lan và ngay cả ở Malaysia, đều có luật buộc phải dán nhãn để khách hàng biết sản phẩm có sự hiện diện của cây biến đổi gen hay không. Chính vì vậy nên ở Úc, Chính phủ buộc phải khoanh vùng "có trồng cây biến đổi gen” (cây GM) để tránh trường hợp lai tạp.

Bảng 1. Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào năm 2006/2008.
Bảng 1. Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam vào năm 2006/2008.
Mục đích chính trong việc khoanh vùng là muốn phân biệt rạch ròi sản phẩm GM, không để thị trường dựa vào việc lẫn lộn (không cách ly) để tẩy chay sản phẩm không GM của Úc. 

5. Tác dụng của gen biến đổi: Mỗi một đặc tính của cây thường bị một hoặc nhiều gen khống chế. Ví dụ như ở cà chua, bệnh Fusarium thì có gen I, bệnh Verticilium thì có gen Ve, tuyến trùng Meliodogyne spp. thì có gen Mi v.v… khống chế. Cho nên ở cây biến đổi gen, hễ cấy gen nào thì cây khống chế được đặc tính đấy.

Ở Hoa Kỳ, sâu đục thân (Ostrinia nubilalis (Hübner) là loại sâu hại trên ngô, bông và các loại rau. Hằng năm chi phí để trừ loại sâu này lên đến hàng tỷ đôla. Chính vì vậy nên khi chuyển gen Bt (Bacillus thuringiensis) vào giống ngô Bt, bông Bt thì cây có có thể tự trừ được sâu ấy ngay, mà không cần phun thuốc BVTV Có điều loại sâu đục thân này lại có nhiều dòng cho nên phải chuyển thêm gen 1, gen 2 v.v… người ta nói bông một gen, hai gen là vì vậy.

Một viện nghiên cứu ở Á châu cho biết thử nghiệm giống Bt bông vải của Hoa Kỳ vẫn bị sâu đục thân tấn công. Nếu không phun xịt, năng suất cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng. Đối với giống đậu nành chống thuốc diệt cỏ Round Up thì trong thực tế việc phun thuốc diệt cỏ Round Up nhiều hơn 5-10 lần so với bình thường (Bendrook, 1999). 

Việt Nam và cây biến đổi gen

Súp lơ.
Súp lơ.

Mặc dù chưa có một nghiên cứu nào chứng minh thức ăn biến đổi gen không tốt, nhưng việc sử dụng thức ăn biến đổi gen lại không có sự đồng thuận rộng rãi của người tiêu thụ trên thế giới.

Trong 13 năm từ 1995 đến 2008, tuy diện tích canh tác các loại cây nông nghiệp biến đổi gen được trồng ở Hoa Kỳ đã tăng vọt lên đến 62,5 triệu ha, nhưng cũng chính vì nghi ngờ có sự hiện diện của giống lúa biến đổi gen mà ngành lúa gạo Hoa Kỳ đã phải trả giá đắt vì đã không xuất khẩu được gạo của mình, mất 1,2 tỷ USD vào năm 2006. Cũng cần nhắc lại trước đây vào năm 1999, ngô của Hoa Kỳ cũng đã bị thị trường Âu châu tẩy chay vì là ngô biến đổi gen. 

Việt Nam là một nước nông nghiệp và xuất khẩu nông sản. Gạo, cà phê, cao su, điều, hạt tiêu, tôm, cá tra… là những mặt hàng xuất khẩu quan trọng đem hàng tỷ đô la về cho đất nước (Bảng 1) cho nên việc nghiên cứu và triển khai cây biến đổi gen phải được nhìn ở góc cạnh khác, tức là đứng từ quan điểm thương mại hơn là quan điểm khoa học vì điều lớn nhất, quan trọng nhất, nguy hiểm nhất đối với nông nghiệp Việt Nam là liệu khách hàng của Việt Nam có chấp nhận thức ăn GM không? Giả sử 4-5 triệu tấn gạo của Việt Nam là "gạo GM" thì liệu ta có bán được để thu vào 2,8 tỷ USD như năm 2008 không? 

Chỉ mới “nghi ngờ” có lẫn gạo biến đổi gen mà Hoa Kỳ đã mất trắng 1,2 tỷ USD xuất khẩu. Dĩ nhiên đối với Hoa Kỳ 1,2 tỷ USD là nhỏ vì lợi nhuận trong việc bán giống GM và những phụ kiện CNSH còn lớn hơn nhiều. Chỉ riêng Công ty Monsanto năm 2007 đã bán giống cũng thu vào 5 tỷ đôla, bán sản phẩm CNSH thu vào 8,5 tỷ đôla Mỹ (cộng 13,5 tỷ đôla). Nhưng 2,8 tỷ USD có nhỏ đối với Việt Nam không? Đó là chưa nói đến thị trường khác như EU, Nhật... vốn không thích thực phẩm GM. 

Như vậy đứng về mặt ngoại thương, Việt Nam cần phải bảo vệ thị trường xuất khẩu bằng cách bảo đảm nông sản & thực phẩm của mình không có GM cho đến khi khách hàng của ta chấp nhận sản phẩm biến đổi gen. Phải nói thêm rằng tuy là nơi quê hương của cây biến đổi gen, nhưng giới tiêu thụ Hoa Kỳ vẫn thích thực phẩm không có GM. Việt Nam tuyệt đối không để mất hàng tỷ đô la xuất khẩu chỉ vì ta lẫn lộn giống lúa, ngô biến đổi gen. 

Tuy nhiên, cây biến đổi gen là một thành tựu của khoa học hiện đại cho nên đứng về mặt chiến lược phát triển KHKT của đất nước, Việt Nam không thể không tiếp cận với kỹ thuật biến đổi gen. Nghiên cứu các loại lúa chống mặn, chống lụt (gene Sub1) để đối phó với biến đổi môi trường, các loại cây cố định đạm để đối phó với đất bạc màu, đất phèn, đất bị ô nhiễm… để bảo vệ môi trường, hoặc đánh giá cây biến đổi gen cho các loại nông sản quan trọng như lúa, ngô, đậu tương, bông vải và rau quả, cũng như chẩn đoán CÓ hay KHÔNG gen biến đổi trong nông sản hoặc thức ăn nhập khẩu như ngô, đậu tương, sữa, bơ, phó mát, khoai tây chiên… là những việc rất quan trọng mà chúng ta cần phải làm, vừa để bảo vệ thị trường trong nước vừa chuẩn bị cho đến khi người tiêu dùng thế giới chấp nhận rộng rãi thực phẩm biến đổi gen, thì lúc ấy đã có sẵn chuyên viên và các kỹ thuật CNSH về giống, tạo và nhân nhanh giống biến đổi gen, phục vụ kịp thời cho nông nghiệp Việt Nam, phát triển xuất khẩu. 

Như vậy vào thời điểm này, có lẽ chúng ta chỉ nên triển khai nghiên cứu cây biến đổi gen ở tầm đại học hoặc viện nghiên cứu để Việt Nam không bị tụt hậu trong bước tiến chung về KHKT của thế giới. Nghiên cứu cây biến đổi gen ở đại học hoặc viện nghiên cứu có lý do để Việt Nam giải thích với bạn hàng nhập khẩu Việt Nam vẫn là một quốc gia GM-free.

Riêng đối với các loại cây không phải là thực phẩm như bông thì việc sử dụng đại trà giống biến đổi gen là điều nên làm. Chúng ta cần phải hết sức thông minh để đi vào con đường GM. Không nên vội vã mà bị rơi vào cái bẫy của những công ty siêu quốc gia khi họ bị mất thị trường Âu châu và Nhật Bản nay quay sang Việt Nam tìm kiếm thị trường mới.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.