Câu chuyện về pháp luật
Vào thời Thánh Tông, Minh Mạng thì biên giới Việt Nam chưa bao giờ rộng lớn như thế. Còn văn trị, Thánh Tông cho ban bố Luật Hồng Đức nổi tiếng, Minh Mạng đã lập Nội các đầu tiên và Cơ mật viện xem như cơ quan tư vấn và cơ quan có trách nhiệm cao về việc quân quốc trọng sự, ở các tỉnh thì đặt các quan tổng đốc, tuần phủ lãnh đạo, bố chánh coi việc thuế má, đinh điền, lính tráng, án sát thì coi việc hình luật, ngành võ thì cho lãnh binh cai quản.
Như trên, luật pháp nằm trong tay các viên án sát sứ. Vị quan này có một dinh riêng để xử kiện nằm kế cận nhà lao để tiện việc giam giữ tù nhân.
Dưới các phủ huyện thì có các quan tri phủ, tri huyện là những hình ảnh thu nhỏ của tổ chức cai trị ở tỉnh, nhưng không có nhiều quan, nghĩa là quan phủ, quan huyện vừa là quan thu thuế, xử kiện và đồng thời cũng coi cả việc quân lính. Vì thế nước ta trước kia số lượng công chức toàn quốc không nhiều hơn số công chức của một tỉnh lớn ngày nay. Ở mỗi văn phòng nhiều lắm cũng chỉ ba bốn nhân viên có biên chế và chia ra phần vụ cho mỗi người có trình độ học vấn và nghiệp vụ đảm nhận.
Nhưng như thế thì làm sao viên thông lại phụ trách đủ khả năng làm tròn mọi công việc, khi không có người giúp việc công khai để cho công việc bớt nặng nhọc và có kết quả tốt. Thời trước cho phép nhiều học sinh không đủ trình độ thi cử hoặc bị thi hỏng thì chịu phục vụ không lương cho các viên thơ lại. Khi có việc kiện tụng thì những vị gọi là sĩ bổ này được viên thông lại phụ trách giao công việc cho một hai viên sĩ bổ tiến hành mà chủ yếu là viết các tờ trình bẩm hoặc đơn kiện giúp cho nguyên cáo hoặc bị cáo. Công việc tiến hành trong những quán rượu hoặc quán cơm nhỏ do các chủ cửa hàng dựng lên quanh phủ lỵ hoặc huyện lỵ tiến trình xảy ra giữa các viên sĩ bổ cùng bên nguyên, bên bị (tức là người đi kiện và người bị kiện) như thế nào chúng ta đoán định được. Việc đơn giản nhất là người đi thưa kiện phải chịu tổn phí về giấy mực, đơn từ. Nhưng đã gọi là kiện thì phải thắng mà dẫu có bại thì cũng chỉ được bại một cách tương đối. Chính viên sĩ bổ này đã trở thành thầy cò, thầy kiện bày mưu, lập kế cho người đến “hầu quan” để đối phó thắng lợi với đối phương. Đối phương cũng không phải tay vừa, cũng đi tìm thầy cò, thầy kiện có kinh nghiệm để giáng những đòn đáng kể cho kẻ thù mình. Nói như thế tức là việc đã lên tới văn phòng của huyện, của phủ và từng bước được đặt dưới mắt quan. Quan lại truyền xuống cho thầy đề, thầy lại những nhận xét riêng trước khi đưa vụ việc ra công đường và cứ như thế sự việc dây dưa mà hai bên nguyên, bên bị đều phải bỏ tiền túi có khi phải bán ruộng, bán đất để trám cho kín miệng tham nhũng của thầy lại, của các quan, của thầy cò, thầy kiện và của cả lý hương (lý trưởng và hương chức) đi theo để yểm hộ, để xác chứng khi cần. Bởi thế ngày xưa có câu: “Được kiện mười bốn quan năm, thua kiện mười lăm quan chãn”, nghĩa là sau vụ kiện thì người được hay là người thua cũng đều mất tiền gần như nhau cả. Mà có đưa lên trên thì sự việc lại diễn ra trước quan án sát sứ của tỉnh cũng như trước các quan phủ, quan huyện. Trong Truyện Kiều có câu:
Đã đưa đến trước cửa công,
Thì ngoài là lý như trong là tình
Mới nghe thật đầy tình nghĩa vì nó đã giải quyết lý tình trọn vẹn. Nhưng đứng về phương diện thực tế, lý thì rất gần với pháp luật có thể có căn cứ để kiểm tra, để xử định dù tương đối. Chứ còn tình thì cậy dựa vào đâu để xét xử cho công bằng? Ngay trong Truyện Kiều, vị quan xử kiện là một kẻ đức độ có thừa mà cũng vì trọng tài trọng sắc của Thuý Kiều mà đã hành động một cách vô cùng lố bịch: không chỉ tha cho Kiều cái tội quyến rũ chồng người mà còn đưa cả quân nhân dưới trướng với đèn đuốc xôn xao, võng hoa rực rõ, long trọng rước Thuý Kiều đến cái nơi đáng ra nàng phải bị trục xuất về nhà chứa mại dâm, lại công nhận nàng là vợ nhỏ thực sự hợp lý, hợp pháp của Thúc Sinh. Quả thật “cái bên trong là tình” đã làm nhơ luật pháp mà gần vài trăm năm nay người ta vì lời văn đẹp đẽ của Nguyễn Du lại luôn xứng tụng tình huống ngộ nghĩnh này.
Ở Quảng Nam để trình bày tệ nạn hối lộ tham nhũng do tư tâm của các quan xử kiện đã bóp méo sự thật một cách tàn nhẫn, người ta thường kể cho nhau nghe một bài ca dao có tính chất ngụ ngôn của quan huyện Hà Đông nào đó đã làm đau khổ cho bị cáo phải “cực lòng” đến đâu:
Trách lòng quan huyện Hà Đông
Xử vị lòng chồng hai bảy mười ba
Không nghe tan cửa hại nhà
Nghe thời hai bảy mười ba cực lòng
Bài toán hai bảy đứa trẻ con cũng biết là mười bốn nhưng chỉ vì tình đối với người chồng (vì tình, vì tiền, vì thế lực, vì bị ép bức bởi thế lực, thúc ép vì tình cảm riêng tư…) nên vị quan cai trị kiêm quan toà đã dám quên hết cửu chương để biến con số 14 thành 13 trên giấy trắng mực đen để đày đoạ một người đàn bà cô thế. Người xưa có câu “hôn nhân điên thổ, vạn cổ chi thù” câu ấy có nghĩa là trong đời sống gia đình và xã hội không có gì là quan trọng hơn duyên phận lứa đôi và đất sinh sống của con người. Pháp luật ngày xưa rất quan tâm đến vấn đề này vì từ quan chí dân ai cũng thấy trước cái hậu quả của một vụ xử kiện nằm trong cái khung căm thù “muôn vạn thuở” ấy. Chúng ta không thể chép cho hết chuyện ghen tuông của đàn bà kinh hãi đến đâu. Cũng như không thể chép cho hết chuyện tranh giành điền thổ giữa anh em, cha con, giữa tộc họ, giữa dân làng này với làng kia khi giành bạn hạn (tức biên giới giữa hai làng) một cuộc chiến tranh thực sự cũng máu chảy cũng thương vong. Đứng trước những cuộc đấu tranh quyết liệt, sống chết ấy mà nếu quan toà không công minh, luật lệ không rõ ràng, chứng cứ không đầy đủ mà lại còn đem tư tâm lấy tình riêng để xét xử thì tai hoạ không biết thế nào mà lường và hận thù không biết bao đời mới chấm dứt. Pháp luật phải đặt lên trên hết còn tất cả tư tâm có thể biến thành tà tâm.
Ngày xưa, chúng ta học đạo Nho và chữ Hán, luật pháp còn rất đơn sơ dù có được tôn trọng ngang với việc cứu nước, mở nước qua thành ngữ: “Võ công văn trị”. Võ công thì chỉ một thời còn văn trị là cái vĩnh cửu. Không có văn trị rực rỡ với chế độ và pháp luật nghiêm minh thì không thể quy phục được lòng dân. Xem phin Bao Côngngày nay, xem vai trò người cầm cân nảy mực công lý, ai cũng nghĩ vai trò độc lập của người cầm cân công lý là điều tất yếu và ai cũng mong đất nước không chỉ có một Bao Công mà mỗi quan toà phải có tư cách và tấm lỏng của Bao Công. Ở nước ta sự tích Bao Công đã được các diễn viên hát tuồng trình diễn gần với sự thực hơn là lối trình diễn chú trọng ma quái trong ti vi của Trung Quốc ngày nay. Nhưng nếu ta gạt bỏ những thứ yêu ma lẩm cẩm đưa khách cũng như bỏ bớt tính chuyên chế của phong kiến ta sẽ gặp nhân cách một vị quan toà mà thời nào cũng cần. Không phải Bao Công không “vị tình” nhưng là cái tình vì dân, vì nước, vì sự thật, vì công lý nghĩa là cũng chỉ cần chân lý. Một nền pháp luật tuỳ tiện thì hiển nhiên không thể đạt tới văn trị, chỉ hại dân, hại nước không thể nói cho xiết dù có nền võ công cực kỳ rực rỡ. Chính vì nhờ Lê Thánh Tông, nhờ văn trị lừng lẫy mà võ công của Lê Thái Tổ mới được rạng rỡ tới ngày nay.
Không biết thời Lê Thánh Tông ông có vi hành trong dân chúng để tiếp cận với xã hội để hiểu rõ đời sống nhân dân và những người bị đau khổ vì sự cai trị hà khắc của quan lại không. Vua có thực tế vi hành như thế thì mới nắm chắc được những sự thật cần phải biết và những sớ tấu của quan lại địa phương đầy văn chương hoa mỹ làm cho mờ mắt. Đến đời Minh Mạng nhờ được sống rất lâu dài trong dân chúng sau những thời bôn ba lưu lạc, lại thêm một số gương của các vua nhà Thanh về nhiều phương diện khác nhau mà ông hiểu sự vi hành là rất cần thiết, có như thế mới khám phá được bộ mặt thật mà nhà vua có trách nhiệm cũng như trách nhiệm đối với những quan cai trị giữ quá nhiều quyền hạn đã tác oai tác quái đối với người dân bất lực. Tiếc thay các sách vở của ta nhắc nhở rất ít những cuộc vi hành của nhà vua. Tôi chỉ nhớ trong sách giáo khoa cũ có kể chuyện nhà vua mặc thường phục đi ra và được nghe tiếng khóc từ một nhà nghèo khổ đưa ra trong ban đêm. Ông đã đến tìm và gặp một viên quan nhỏ, chính là người đã phát ra tiếng khóc. Được biết tâm sự và tình trạng đáng thương của chủ nhà, chính nhà vua đã trực tiếp giúp đỡ để ông toại nguyện chữ hiếu của mình. Trong những cuộc tiếp xúc khác trong quảng đại nhân dân ông sẵn sàng chấp nhận tất cả những tờ kêu than hoặc chống đối. Tiêu biểu nhất và cũng nặng nề nhất là tờ tấu của người học trò ở huyện Duy Xuyên, Quảng Nam phản đối hành vi của vua trong các cuộc ngự du tốn kém (có in đầy đủ bức thư này trong tập Chào năm 2000do tạp chí Khoa học và Phát triểnxuất bản). Tuy nhà vua đã có thái độ bất bình đối với người học sinh “bạch đinh” này, nhưng qua đó ta cũng thấy rõ việc thực hiện văn trị ở thời kỳ nhà vua cai trị tại sao nó được rõ ràng. Và ta cũng có thể hiểu lý do tại sao thời kỳ ấy đạt được những thành tựu lớn lao về nông, công, thương nghiệp. Cụ thể nhất là mở mang sông ngòi, kinh rạch, khai thác đất đai nhất là ở Nam Bộ và quan hệ với buôn bán với cả vùng này gọi Đông Nam Á rất sớm và rất thành công. Chưa bao giờ Việt Nam đạt được thành tích kinh tế, tài chính bằng thời kỳ này suốt chế độ phong kiến.








