Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 08/09/2014 17:56 (GMT+7)

Cách mạng Tháng Tám qua góc nhìn sử gia phương Tây

  Có thể liệt kê một số lượng không nhỏ các công trình nghiên cứu chuyên sâu của phương Tây về lịch sử Việt Nam, trong đó nhắc tới Cách mạng Tháng Tám như một sự kiện đặc biệt quan trọng.

Chẳng hạn, các cuốn:  Histoire du Việt Nam de 1940-1952  (Phillip Devillers, 1952),  Vietnam: Sociologie d"une guerre(Paul Mus, 1952),  Vietnam: The Origins of Revolution  (John McAlister, 1969),  Vietnam: A History  (Stanley Karnow, 1981),  The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War  (S. Tonnesson, 1991),  Vietnam 1945: the Quest for Power  (David Marr, 1995).

Tác phẩm gần đây nhất mà độc giả Việt Nam được biết, liên quan tới Cách mạng Tháng Tám, có lẽ là cuốn  Ho Chi Minh: A Life  của William J. Duiker, công bố vào tháng 10/2000.

Mỗi sử gia một góc nhìn

Một điểm thú vị là không phải tất cả các tác giả đều là sử gia chuyên nghiệp. Dường như chính điều đó khiến mỗi người có cách tiếp cận khác nhau về mỗi sự kiện, biến cố lịch sử.

Có những cuốn sách, ví dụ  Histoire du Việt Nam  và  Vietnam: A History  là do các nhà báo từng có mặt trong chiến tranh Việt Nam viết nên.

Hoặc cuốn  Vietnam: Sociologie d"une guerre  của Paul Mus, một học giả về châu Á, cố vấn của Cao ủy Pháp tại Sài Gòn Emile Bollaert. Ông Mus từng gặp Hồ Chủ tịch ở chiến khu để tìm kiếm cơ hội “điều đình” với Chính phủ Việt Nam.

Đó là vào tháng 5/1947, Paul Mus đi từ Hà Nội lên chiến khu gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, mang theo một số đề nghị từ phía Pháp, rằng Pháp đồng ý ngừng bắn với một số điều kiện như: Việt Minh hạ một phần vũ khí, cho phép quân đội Pháp đi lại tự do trong vùng Việt Minh…

Hồ Chủ tịch hỏi Paul Mus: “Ở địa vị tôi, ông có chấp nhận như thế không?”. “Không” – Mus đáp. Và Hồ Chủ tịch đã bác bỏ các đề nghị “cầu hòa” đó của phía Pháp.

Câu chuyện này được nhà báo Mỹ Stanley Karnow thuật lại trong cuốn sách của ông. Karnow cũng đánh giá Paul Mus là “có tình cảm với Việt Minh”. Về phần mình, Mus được coi là người đầu tiên đã phân tích nguyên nhân xã hội - chính trị sâu xa của Cách mạng Tháng Tám, ngay từ năm 1952.

Theo Mus – từ giác độ một nhà nghiên cứu châu Á và ủng hộ hòa bình ở Đông Dương - chính quyền thực dân Pháp phải chịu trách nhiệm về việc đã phá vỡ cơ sở và cấu trúc kinh tế - xã hội của Việt Nam, khiến Việt Nam trở thành một dân tộc mất cân bằng; và Cách mạng Tháng Tám là cách người Việt Nam lập lại thế cân bằng đó.

Tuy nhiên, khác với Paul Mus, một người cùng thời với ông là ký giả Pháp Phillip Devillers lại cho rằng “cuộc cách mạng không phải là sự bùng nổ… Chỉ có một sự hội tụ kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được”. (1)

Các điều kiện ấy là Nhật đảo chính Pháp, nạn đói năm Ất Dậu, tình trạng (gần như) vô chính phủ ở Việt Nam. Theo Devillers, nếu không có “sự hội tụ kỳ lạ” những việc này, Việt Minh “khó có cơ may... để thắng được cấu trúc mạnh mẽ của Pháp...”.

Gần tương đồng với quan điểm này của Devillers, nhà sử học Nauy S.Tonesson đưa ra khái niệm “khoảng trống quyền lực”, xuất hiện từ lúc Nhật thế chân Pháp tại Đông Dương nhưng lại bại trận phải đầu hàng Đồng minh. Ông nhận định trong cuốn  The Vietnamese Revolution of 1945 - Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War:

“
Bằng việc tạo ra khoảng trống quyền lực, các cường quốc đã làm đảo lộn toàn bộ tình hình và do đó đã mời Việt Minh giành chính quyền”.

Sử gia người Mỹ William Duiker lại trình bày các nguyên nhân dẫn đến Cách mạng Tháng Tám một cách hết sức thực tế: “Rõ ràng là nạn đói ở miền Bắc và Trung Việt Nam, kéo dài dai dẳng từ mùa đông trước, đã tạo ra một tình thế thuận lợi cho các lực lượng cách mạng…

Đói kém tràn lan đã tạo ra cơ hội ngàn vàng cho Việt Minh. Họ tiếp tục khuyến khích nông dân đang bị đói, ở những khu vực mà họ đã giải phóng, phá các kho thóc công để chia cho dân nghèo…

... Trong khi đó, lạm phát đang tăng rất nhanh… Với chi phí sinh hoạt lên cao và tình trạng khan hiếm lương thực tiếp diễn, nhiều người dân trung lưu ở Hà Nội và các thành phố lớn bắt đầu để ý đến Việt Minh, và thậm chí một số đã mua “trái phiếu cách mạng” để gây cảm tình với chính quyền cách mạng tiềm tàng trong tương lai”. (2)

Tuy nhiên, cho dù có những khác biệt trong đánh giá về nguyên nhân và bản chất của Cách mạng Tháng Tám, các sử gia đã gặp nhau khi chỉ ra trong cuốn sách của họ vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh, tinh thần dân tộc của thời đại, cũng như tầm tư tưởng vươn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Hồ Chủ tịch - nhà cách mạng của thời đại

Không có gì quá lạ khi hai sử gia người Mỹ Stanley Karnow và William Duiker dành nhiều dòng để viết về mối quan hệ Việt Nam - Mỹ từ thời “xa xôi” 1945-1946. Hai ông cũng nói nhiều về thái độ nhìn nhận và cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những đại diện cho Washington ở Việt Nam thời kỳ ấy.

Chẳng hạn, nhà báo Stanley Karnow đã viết tương đối kỹ về một thời gian mà Hồ Chí Minh phải chèo lái con thuyền cách mạng để giữ vững nền độc lập trong một bối cảnh quốc gia và quốc tế rất phức tạp. Ông cho rằng chính việc để quân Tàu Tưởng vào giải giáp phát xít Nhật ở miền Bắc, quân Anh vào tiếp quản miền Nam, chia hai miền tại vĩ tuyến 16, đã là “một công thức nấu món thảm họa”.

Viên đô đốc người Anh, Douglas Gracey, đã tỏ ra có quá ít kinh nghiệm chính trị khi tuyên bố “việc kiểm soát về dân sự và quân sự của người Pháp (đối với Đông Dương) chỉ là trong vài tuần nữa”, bất chấp việc Hồ Chủ tịch tuyên bố độc lập cho Việt Nam vào ngày 2/9/1945.

Còn theo sử gia William Duiker thì mối “duyên nợ” Việt Nam - Hoa Kỳ đã hình thành từ khi viên sĩ quan OSS Archimedes Al Patti gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Tỉnh Tây đầu năm 1945. Tháng 8 năm đó, Patti đến Hà Nội để thu xếp việc trả tự do cho tù binh Đồng minh đang bị Nhật giam giữ, cũng như cung cấp thông tin tình báo về Đông Dương.

Duiker thuật lại về cuộc gặp giữa Hồ Chủ tịch và Archimedes Al Patti vào khoảng trưa ngày 26/8/1945:

“… Ông Hồ bày tỏ quan ngại về thái độ của Chính phủ Trung Quốc (chính quyền Tưởng Giới Thạch) và Anh, và cho rằng Chính phủ Anh có chung lợi ích với Pháp trong việc duy trì các thuộc địa châu Á, trong khi người Trung Quốc có lẽ sẽ bán rẻ lợi ích của người Việt Nam để đánh đổi lấy lợi ích cho riêng họ.

Ông Hồ cũng cố gắng thăm dò vị khách của mình về cách nhìn của Mỹ về Đông Dương… nói rằng ông chỉ là “một nhà yêu nước theo chủ nghĩa xã hội tiến bộ”… Nhưng Patti đã kể lại rằng Patti đã tránh né không hứa hẹn gì, và một mực nói rằng ông ta không được quyền tham gia vào những cuộc mạn đàm chính trị”. (3)

Những chi tiết này hé lộ cho chúng ta thấy nhiều điều, có lẽ rất gần với sự thật lịch sử, hoặc ít nhất cũng có giá trị thông tin hết sức thú vị, về tư tưởng và hành động của Hồ Chủ tịch – nhà cách mạng lỗi lạc.

Một chính quyền cách mạng tiến bộ

Cũng William Duiker đã ghi lại những tư liệu cho thấy tinh thần dân tộc và tính nhân văn của một chính phủ cách mạng non trẻ trong hoàn cảnh khó khăn chất chồng. “Chính phủ mới đã thông qua một loạt các biện pháp khẩn cấp để chống nạn đói… Thuế nông nghiệp được giảm và sau đó miễn hoàn toàn, một sở tín dụng nông nghiệp được lập ra để giúp nông dân vay vốn dễ dàng hơn...”. (4)

Chính phủ mới cũng đã ra một sắc lệnh (mà theo Duiker là “đậm màu sắc Khổng giáo”) yêu cầu tất cả mọi người Việt Nam trong vòng một năm phải biết đọc, biết viết. Chính nhờ sự quyết tâm của chính quyền, đến mùa thu năm sau, trên 2 triệu người đã thoát mù chữ.

Chính quyền cách mạng lâm thời nỗ lực phục hồi kinh tế bằng nhiền biện pháp như giảm thuế, chia đất nông nghiệp cho dân, tuy “không tiến hành các biện pháp quốc hữu hóa các ngành công nghiệp và cơ sở thương mại… Chỉ có đất đai của thực dân Pháp và Việt gian mới bị tịch thu”. (5)

Hồ Chủ tịch cũng nêu vấn đề chuẩn bị Tổng tuyển cử, thành lập chính phủ hợp pháp dựa trên quyền tự do dân chủ.

“Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế” – S.Tonesson viết.

Xuất phát từ những quan điểm và tâm thế chính trị khác nhau, không phải tất cả các sử gia đều có thể vươn tới sự thật và mang nó tới cho độc giả. Càng không phải tất cả đều chia sẻ những quan điểm thống nhất về Cách mạng Tháng Tám.

Nhưng các tác phẩm phản ánh những góc nhìn của họ về một sự kiện trọng đại trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam, ngoài ra, ít nhiều, chúng đều mang lại cho chúng ta một số lượng không nhỏ những thông tin có giá trị tham khảo.

--------------------------

(1) Theo Hữu Ngọc, "Lãng du trong văn hóa Việt Nam"
(2), (3), (4), (5) Trích từ "Ho Chi Minh: A Life"

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.
Bác Giáp: Sâu nặng những ân tình với VIFOTЕС
Điều mà những người làm khoa học kính phục ở con người Đại tướng Võ Nguyên Giáp là cả khi khỏe mạnh hay đau yếu, ông vẫn hướng tới việc chung, vì sự nghiệp đổi mới, sáng tạo của đất nước. Khi sức khỏe không còn đủ để đến tham dự các lễ trao giải, tôn vinh nhà khoa học, Đại tướng vẫn dõi theo; các thành viên trong Quỹ và Liên hiệp Hội Việt Nam vẫn đến gặp Đại tướng để báo cáo và nghe chỉ đạo.