Các sản phẩm từ ong
Phấn ong
Khi mùa hoa nở rộ, ong đi lấy phấn hoa, dùng chân trước thu gom hạt phấn rồi nhào luyện với nước miếng trong đó có men lactic rồi gắn hai bên chân sau mang về tổ, đó là phấn ong.
Phấn ong có thể coi là một protein thực vật: 100g phấn ong tương đương với protein hấp thụ được từ 7 quả trứng hay 400g thịt bò. Phấn ong là một hỗn hợp kích thích hệ miễn dịch có chứa (vitamin B, C và E), 8 axit amin cần thiết, selenium (một vi chất kháng oxy rất hiếm gặp trong thực phẩm) và carotenoid có đặc tính kháng viêm.
Phấn ong có tác dụng kích thích quá trình tổng hợp protid trong cơ thể và tăng cường sức chống đỡ của cơ thể với các bệnh nhiễm trùng. Các nhà khoa học cho rằng các men lactic (1 đến 10 triệu/ gam) làm phấn ong trở thành một “probiotic” như sữa chua, có thể tái lập hệ vi sinh đường ruột, điều hoà nhu động ruột.
Sữa ong chúa ngăn ngừa mệt mỏi
![]() |
Trong sữa ong chúa, các chất đạm ở thể axit amin dễ hấp thu, đặc biệt có cystin (axit amin có lưu huỳnh) rất cần cho sinh trưởng động vật. Sữa ong chúa hoàn toàn vô trùng và có khả năng sát khuẩn. Các đặc tính này được con người chú ý từ xưa nên sữa ong chúa được dùng để “ăn ngon, ngủ kỹ” và ngăn ngừa mệt mỏi.
Trong sữa ong chúa 50% là protein và các axit amin, rất giàu chất kháng oxy và chất béo (5%). Các axit béo của sữa ong chúa kích hoạt các tế bào hình tua khởi phát phản ứng miễn dịch khi bị viêm nhiễm.
Vào 2001, giáo sư Masaki Kamakura đã xác định sữa ong chúa giúp chống mệt mỏi.
Eberhard Bengsch (CNRS) đã nghiên cứu tác động kháng virus gây bệnh tim mạch (Coxsaki B3) của sữa ong chúa. Theo ông, sữa ong chúa còn tác động đến nhiều virus khác như virus herpes, cúm, viêm gan B.
Nọc ong
![]() |
Sáp ong
Ở thời Ai Cập cổ đại, sáp ong dùng để ướp xác. Vào thế kỷ XI, nhà y học Avicenne dùng sáp ong để chữa trị vết thương do mũi tên gây ra. Con ong dùng sáp để xây tổ, sáp có màu vàng đến nâu. Trong y dược cổ truyền, sáp ong được dùng làm vỏ bọc thuốc viên, hỗn hợp các thuốc mỡ. Sáp ong được lấy từ chồi nụ một số cây, bao gồm: 55% nhựa, khoảng 300 hoạt chất trong đó có flavonoid và polyphenol, là các chất chống oxy hoá, ngăn ngừa sự lão hoá tế bào.
Vào tháng 5 - 2007, các nhà khoa học Bochum (Đức) thông báo chất CLU 502 trích từ sáp ong có thể tiêu huỷ các tế bào ung thư mà không làm tổn thương các tế bào lành kế cận trong thử nghiệm.
Mật ong
![]() |
Trong mật ong có: nước (17 - 20%) và đường (80%), trong đó có glucoz (35%), fructoz (35%), saccaroz (7%), dextrin (3 - 4%), ngoài ra còn có protid (0,4%). Enzym trong mật có invertaz, lipaz, galactaz. Các vitamin có B2, B6, E, K, C, A. Ngoài tác dụng dinh dưỡng, mật ong còn có tác dụng kháng khuẩn.
Từ tháng 3 - 2005, ở một số bệnh viện Anh, người ta đã sản xuất một sản phẩm từ mật ong để làm lành các vết thương.
Từ 1984, ở Pháp, GS Bernard Descottes (CHU Limoges), đã sử dụng mật ong để chăm sóc các bệnh nhân có vết thương dài (trên 20cm) hay các bệnh nhân bị loét do nằm liệt giường. Khi thoa mật lên vết thương, chất đường làm sạch vết thương nhờ hiện tượng thẩm thấu. Đường hút nước và rỉ ra từ chỗ đau. Glucoz oxydaz, một enzym biến đổi mật ong thành peroxid hydrogen (oxy già) và axit gluconic, tạo một môi trường ẩm và axit, thích hợp cho sự phát triển của tế bào mới, làm lành sẹo. Trong 98% các trường hợp, vết thương liền da sau 3 - 4 tuần.
Cần lưu ý:mật ong dùng để chữa vết thương không được đun nóng hay phơi ngoài ánh sáng.










