Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 01/12/2006 00:21 (GMT+7)

Các chỉ số căn bản về nghiên cứu vật lý qua năm 2005

Cơ sở dữ liệu “Các chỉ số khoa học căn bản” của Viện Thông tin Khoa học cung cấp 3 chỉ số quan trọng trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ của các quốc gia trên thế giới có các công trình nghiên cứu khoa học được công bố trên các tạp chí đạt chuẩn quốc tế và được lưu trữ trong các cơ sở dữ liệu của ISI. Đó là chỉ số về tổng số các công trình khoa học được trích dẫn và chỉ số về số lần trích dẫn trung bình cho một công trình khoa học. Các chỉ số được khai thác từ cơ sở dữ liệu được cập nhật vào ngày 1 - 3 - 2006 và cho suốt chu kỳ 10 năm 1995 - 2005.

Số lượng các công trình vật lý công bố trong chu kỳ 5 năm, từ năm 1995 đến 2005, của các nước ASEAN. Mười quốc gia dẫn đầu về tổng số các công trình nghiên cứu vật lý vẫn giống như năm ngoái (xem Vật lý ngày nay, 4/2005) như trình bày ở Bảng 1. Duy chỉ có Hàn Quốc từ vị trí thứ 10 đã vươn lên chiếm vị trí thứ 9 của Ấn Độ. Mỹ vẫn là quốc gia đứng đầu thế giới về nghiên cứu vật lý và có khoảng cách khá xa với các quốc gia còn lại. Trung Quốc tuy có số lượng bài báo công bố nhiều nhưng số lần trích dẫn trung bình cho một bài còn khiêm tốn và thấp nhất trong 10 quốc gia dẫn đầu này. Đáng kể là Hàn Quốc và Ấn Độ đã thu hẹp khoảng cách về chỉ số lần trích dẫn trung bình so với các quốc gia trong cùng tốp dẫn đầu. Trung Quốc và Hàn Quốc là hai quốc gia có tốc độ tăng trưởng số lượng bài báo cao nhất trong tốp dẫn đầu. Trung bình tốc độ tăng trưởng số lượng bài báo tính theo chu kỳ 5 năm trong 10 năm qua của Trung Quốc là 14,4% và của hàn Quốc là 11,9%, trong khi của Mỹ chỉ có 1,8%. Hiện nay số lượng bài báo tính theo chu kỳ 5 năm của Trung Quốc đã vượt qua Pháp, tuy tổng số tính theo chu kỳ 10 năm vẫn còn vẫn còn thấp hơn Pháp. Với tốc độ tăng trưởng như hiện nay, Hàn Quốc sẽ vượt qua Italytrong vòng 5 năm tới. Sự trỗi dậy của vật lý Trung quốc và Hàn Quốc là điều có thể tiên đoán được và cũng không có quá bất ngờ vì các quốc gia này đang không ngừng nỗ lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển khoa học, đặc biệt Hàn Quốc vừa đưa ra chương trình Brain Korea 21 thúc đẩy phát triển khoa học quốc gia.
Số lượng các công trình vật lý công bố trong chu kỳ 5 năm, từ năm 1995 đến 2005, của các nước ASEAN.

Tình hình nghiên cứu vật lý ở các nước ASEAN không có biến chuyển đột phá trong năm vừa qua. Bảng 2 cho thấy các chỉ số về các công trình vật lý của các nước ASEAN được côngbố trong 10 năm 1995 - 2005 và thứ tự xếpp hạng trên tổng số 86 quốc gia có các công trình vật lý được công bố trên các tạp chí đạt chuẩn quốc tế. Năm nay Philippines đã có mặt trong cơ sở dữ liệu của ISI. Trong năm vừa qua vị trí của Singapore đã tăng lên một bậc, vượt qua Rumania, từ vị trí thứ 33 lên vị trí thứ 32 về tổng số công trình vật lý công bố. Thái Lan cũng tăng 2 bậc, vượt qua bangladeshvà Cyprus , từ vị trí thứ 73 lên vị trí thứ 71. Các nước khác vẫn giữ nguyên vị trí của mình. Việt Namvẫn đứng thứ hai sau Singapore . Số lần trích dẫn trung bình các công trình vật lý của Việt Namvẫn tương đối tàm tạm, ở trên Trung Quốc và Singapore . Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng số lượng công trình vật lý của Việt Nam không mấy khả quan và hiện nay là thấp nhất trong khu vực. Singapore có tốc độ tăng trưởng trung bình tính theo chu kỳ 5 năm trong 10 năm qua lớn nhất trong khu vực, đạt 19,5%, sau đó là Thái Lan với 16,4%, Malaysia với 14,3%, Indonesia với 11,5%, trong khi của Việt Nam chỉ có 10,8%. Nghiên cứu số liệu các công trình vật lý năm ngoái, chúng tôi đã tiên đoán với tốc độ tăng trưởng như hiện nay Malaysiasẽ vượt qua Việt Nam trong một tương lai gần (xem Vật lý ngày nay, 4/2005). Số liệu các công trình vật lý năm nay đã khẳng định điều tiên đoán trên. Hiện nay số lượng các công trình vật lý tính theo chu kỳ 5 năm của Malaysiađã vượt qua Việt Nam, tuy tính theo chu kỳ 10 năm thì vẫn còn ở dưới Việt Nam một bậc. Tuy nhiên khoảng cách này là không lớn, và nếu tốc độ tăng trưởng của Việt Nam và Malaysia vẫn giữ nguyên như hiện nay thì Malaysia sẽ chiếm lấy vị trí hiện nay của Việt Nam trong vài năm tới. Đây là nguy cơ tụt hậu của ngành vật lý Việt Nam ngay giữa các nước trong khu vực và có thể thấy trước. Biểu đồ 1 cho thấy nguy cơ này. Biểu đồ 1 trình bày số lượng các công trình vật lý của các nước ASEAN tính theo chu kỳ 5 năm một. Do số lượng các công trình của Singaporevượt trội nên biểu đồ này không trình bày kết quả nghiên cứu vật lý của Singapore . Vậy chúng ta đã có những chính gì đẻ ổn định vị thế vốn có của ngành vật lý Việt Nam ? Có thể thấy sự phát triển ngành vật lý Việt Nam vẫn còn mang nhiều tính tự phát, và bên cạnh đấy vẫn còn tồn tại những ý kiến cho rằng không cần phát triển vật lý như một lĩnh vực quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. để tìm hiểu vị trí của ngành vật lý trong mối tương quan với các ngành khoa học khác chúng tôi khảo sát 5 ngành có số lượng công bố dẫn đầu các quốc gia phát triển, đang phát triển và trong khu vực. Số lượng các công trình công bố là chỉ số phản ánh mức độ đầu tư và tiềm lực của ngành khoa học. Sau đây là danh sách các ngành trong tốp 5 theo thứ tự về số lượng công trình tính trong 10 năm 1995-2005 của một số quốc gia:

* Mỹ: Y, hóa, lý, sinh, cơ khí

* Đức: Y, lý, hóa, sinh, cơ khí

* Nhật: Y, hóa, lý, cơ khí, sinh

* Pháp: Y, Lý, hóa, sinh, cơ khí

* Anh: Y, hóa, lý, cơ khí, sinh

* Trung Quốc: Hóa, lý, vật liêu, cơ khí, y

* Hàn Quốc: Lý, hóa, cơ khí, sinh, vật liệu

* Singapore : Cơ khí, y, lý, hóa, vật liệu

* Maylaysia: Hóa, y, động thực vật, cơ khí, lý

* Thái Lan: Y, động thực vật, hóa, cơ khí, sinh

* Việt Nam: Lý, y, động thực vật, toán, hóa

Các chỉ số về các công trình vật lý công bố trong mười năm 1995 – 2005 của các nước ASEAN.
Các chỉ số về các công trình vật lý công bố trong mười năm 1995 – 2005 của các nước ASEAN.
Trong tất cả các quốc gia này (trừ Malaysia và Thái Lan) vật lý đều ở tốp 3 ngành khoa học dẫn đầu. Điều này phản ánh tầm quan trọng của vật lý trong sự nghiệp nghiên cứu và phát triển bên cạnh y học, lĩnh vực khoa học liên quan trực tiếp đến sức khoẻ của con người. Điều đó cũng lý giải tại sao đối với Malaysia và Thái Lan, các quốc gia có kết quả nghiên cứu vật lý còn khiêm tốn, lại có tốc độ tăng trưởng số lượng công trình vật lý công bố khá cao. Nó cho thấy Malaysia và Thái Lan đang nỗ lực gia tăng nghiên cứu vật lý để đưa vật lý trở thành lĩnh vực hàng đầu trong nghiên cứu khoa học. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng số lượng công trình nghiên cứu vật lý của Việt Nam lại thấp nhất trong các nước ASEAN, và có nguy cơ vật lý Việt Nam sẽ đánh mất vị trí hiện có của mình. Điều đó cho thấy vật lý Việt Nam vẫn chưa có một chính sách thích đáng để ổn định và phát triển. Do không có số liệu về đầu vào cho ngành vật lý của Việt Nam như kinh phí đầu tư, lực lượng nghiên cứu, nên nguyên nhân chính xác của nguy cơ tụt hậu chưa thể phân tích kỹ lưỡng được. Chúng tôi chỉ sơ qua một vài nguyên nhân bên cạnh vấn đề nan giải về kinh phí đầu tư. Công nhận nguyên nhân thực chất là đã tìm ra giải pháp. Có thể thấy, các chương trình nghiên cứu vật lý hiện nay chưa có cơ chế và chính sách hợp lý để nâng cao các công bố khoa học về số lượng cũng như về chất lượng. Đặc biệt công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế vẫn chưa được chú trọng, và vẫn chưa được coi là một tiêu chí mang tính quyết định trong triển khai các chương trình nghiên cứu cũng như trong đánh giá kết quả các chương trình. Và hơn nữa cần phải minh bạch hóa các chương trình nghiên cứu khoa học bằng cách công khai hóa kết quả các chương chình nghiên cứu bên cạnh kết quả đánh giá của hội đồng nghiệm thu để công luận và cộng đồng khoa học có thể đối chiếu và đánh giá. Hiện nay chúng ta đã tổ chức đấu thầu nghiên cứu khoa học, nhưng quá tình này vẫn còn nhiều chỗ chưa được rõ ràng. Chẳng hạn rất khó có thể biết được kết quả nghiệm thu của các chương trình trúng thầu, hay đưa ra những tiêu chuẩn tham gia đấu thầu không rõ ràng, chẳng hạn, một mặt không cho những đề tài nghiên cứu cơ bản tham gia đấu thầu chương trình nghiên cứu vật liệu, nhưng mặt khác chính những chương trình trúng thầu nghiên cứu vật liệu lại cho các kết quả nghiệm thu y chang như kết quả của nghiên cứu cơ bản, hay sự nhập nhằng không minh bạch giữa nghiên cứu vật lý và nghiên cứu khoa học vật liệu. Minh bạch hóa các nghiên cứu là điều kiện tiên quyết để tạo ra thị trường nghiên cứu khoa học và cạnh tranh lành mạnh, là cơ sở căn bản để phát triển nghiên cứu khoa học. Đánh giá nghiên cứu khoa học không theo chuẩn mực quốc tế và không minh bạch là cơ sở khiến khoa học và công nghệ Việt Nam ngày càng tụt hậu. Trách nhiệm này thuộc về các cơ quan đề ra chính sách và quản lý khoa học của Việt Nam .

Nguồn: Tạp chí Vật lý ngày nay, tháng 10/2006.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.