Bức thư tâm huyết về việc xây dựng công trình thuỷ điện Hoà Bình mở rộng
- Chọn 3 bậc thang chính trên sông Đà chứ không phải 2 hoặc 4, 5 bậc đã được EVN và Hội Thuỷ lợi đề nghị.
- Chọn phương án thấp Sơn La ở cao độ mức nước dâng bình thường (MNDBT) là 215m và phương án Lai Châu đặt ở Nậm Nhùn với MNDBT là 295m, chứ không chọn phương án cao 265m như Chính phủ đã thông qua tháng 12 - 2001.
Tuy nhiên còn một số vấn đề quan trọng khác, dù đã được nêu ra từ thời đấy, nhưng cơ quan thiết kế, chủ đầu tư và Bộ quản lý bỏ qua.
Nay đã gần chục năm, công trình thi công đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt được nhiều thành tích to lớn và mục tiêu chạy máy 1 vào năm 2010 theo tổng tiến độ được duyệt sắp đến. Các vấn đề kỹ thuật tôi nêu ra vẫn thấy cần được trình bày lại. Trăn trở với gần hết cuộc đời làm thuỷ điện, tôi lại muốn gửi đến các đồng chí có trách nhiệm cao nhất hiện nay bức thư mà tôi tâm huyết, để mong được xem xét và giải quyết.
Bốn việc tôi nêu trong bức thư có hai việc là bê tông đầm lăn dùng cho toàn diện đập ngăn (đập trọng lực) tuy còn băn khoăn nhưng đã giải quyết. Việc này sau này, hoàn toàn phụ thuộc vào chất lượng công trình và khả năng động đất cấp 8, cấp 9 có xảy ra hay không sẽ trả lời!
Còn việc tổng dự toán công trình, theo tôi trước sau cũng phải tính lại để có con số đúng, chính xác báo cáo Quốc hội và quyết toán sau này.
Việc thứ 3 là tính toán điều tiết lũ liên hồ. Mặc dầu Chính phủ đã cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thực hiện nhưng cần đưa ra để có sự tham gia của Hội đồng thẩm định quốc gia xác định.
Hiện nay đang chấp nhận tần suất an toàn chống lũ cao nhất ở Hà Nội là p = 0,05 (500 năm 1 lần).
Tần suất an toàn thiết kế cho công trình thuỷ điện Hoà Bình là 1/1000 (1000 năm 1 lần); tần suất an toàn thiết kế cho công trình Sơn La là 1/10.000 (1 vạn năm 1 lần).
Tần suất an toàn chống lũ cho đập Tuyên Quang là 1/10.000.
Như việc để tần suất an toàn lũ cho Hà Nội là 1/500 đã phù hợp chưa?
Vấn đề quan trọng thứ 4, tôi muốn đề cập đến là cần thiết phải tăng công suất điện của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình với khoảng 500 - 1000 MW; đồngt hời tăng lượng nước xả lũ ở Hoà Bình khoảng 1200 m3/s. Việc tăng công suất thuỷ điện Hoà Bình sẽ đảm bảo hiệu quả cao cho nhà máy này, đặc biệt khi nó đóng vai trò chạy đỉnh trong hệ thống điện quốc gia (hiện nay giờ cao điểm, miền Bắc đã thiếu điện trầm trọng từ 400 MW trở lên). Việc tăng công suất của nhà máy thuỷ điện theo tính toán của tôi là khoảng 720 - 960 MW sẽ giải quyết được việc lãng phí nước phải xả thừa hàng tháng như hiện nay, trung bình từ 14,5 tỷ m3, có tháng cao trên 25 tỷ m3. Đó là một tài sản lớn của quốc gia!
Về đầu tư cho công trình mở rộng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình này rất thuận lợi vì tất cả các công trình thuỷ công, tích nước đã có, chỉ bỏ vốn ra xây nhà máy thuỷ điện, theo phương án hở, phía đầu nguồn Suối Chì đã được khảo sát kỹ giai đoạn thiết kế công trình nâng tầu thuỷ điện Hoà Bình. Tổng số vốn đầu tư theo tính toán sơ bộ xấp xỉ 400 triệu đô la cho 960 MW là rất rẻ, không có công trình thuỷ điện nào có suất đầ tư rẻ như vậy.
Tôi mong rằng bức thư này được các đồng chí lãnh đạo Chính phủ và các Bộ liên quan tuan tâm. Biết rằng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế này đang rất khó khăn. Nhưng công trình bắt đầu từ thời gian này là rất hữu ích và chỉ sau 3 - 4 năm nó sẽ giải quyết được bài toán khủng hoảng năng lượng rất lớn cho miền Bắc và cả nước.
Tôi xin được công bố bức thư tôi đã gửi Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Chủ tịch HĐQT và TGĐ Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) hôm 5 – 5 – 2009 để các bạn đọc quan tâm tham khảo.
Tên tôi là Phan Đình Đại, nguyên Vụ trưởng Vụ CSXD Bộ Xây dựng, nguyên Tổ trưởng Tổ Chuyên gia của Hội đồng thẩm định nhà nước dự án thuỷ điện Sơn La, xin có ý kiến đề đạt đến các đồng chí mấy vấn đề liên quan đến an toàn và sử dụng hiệu quả công trình thuỷ điện Sơn La và Hoà Bình mà các đồng chí đang giữ vai trò lãnh đạo tối cao.
Ngày 30 - 8 - 2006 tôi đã nhận được công văn số 55/BC-BCN “Báo cáo về các nội dung phê duyệt thiết kế kỹ thuật giai đoạn II dự án thuỷ điện Sơn La” do đồng chí Hoàng Trung Hải lúc đó là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp báo cáo với Thủ tướng và đồng thời trả lời tôi về mấy vấn đề:
a. Chưa có tính toán an toàn chống lũ liên hồ cho các công trình Sơn La, Hoà Bình và toàn bộ Sông Đà khi thiết kế Sơn La.
b. Việc chọn toàn bộ công suất lắp máy N lmcho thuỷ điện Sơn La và bổ sung cho nhà máy thuỷ điện Hoà Bình chưa thoả đáng.
c. Vấn đề sử dụng toàn bộ 100% tiết diện đập dâng thuỷ điện Sơn La bằng RCC khí chưa có tiêu chuẩn cho loại bê tông đầm lăn RCC mà quyết định phê duyệt là chưa hợp lý.
d. Chưa có tổng dự toán thiết kế công trình mà đã phê duyệt thiết kế kỹ thuật giai đoạn II là không đúng pháp luật.
Cho đến nay công trình đã được khởi công xây dựng gần 5 năm và sắp vận hành tổ máy I (vào năm 2010), các vấn đề chủ yếu nêu trên, đặc biệt có 2 vấn đề và quan trọng, mong các đồng chí sớm cho ý kiến quyết định:
1. Vấn đề tính toán an toàn chống lũ với bài toán tính điều tiết liên hồ để đảm bảo an toàn tuyệt đối cho công trình. Theo ông Hải dự án đã chọn dung tích phòng lũ của hai hồ Sơn La, Hoà Bình là 7 tỷ m3, trong đó phân phối cho Sơn La 4 tỷ m3, Hoà Bình 3 tỷ m3 và đã được phê duyệt.
Đó chưa phải là tính toán điều tiết chống lũ liên hồ theo các kịch bản bất an toàn mà yêu cầu thiết kế đưa ra. Việc này theo ông Hải đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chủ trì thực hiện. Đề nghị có Hội đồng thẩm định Nhà nước xem xét.
2. Vấn đề chọn công suất và mở rộng nhà máy thuỷ điện Hoà Bình và Sơn La
Theo ông Hải, vấn đề này đã được giải quyết và phê duyệt.
- Chọn công suất lắp máy của thuỷ điện Sơn La là 2400 MW kiến nghị sau 2020 khi có điện nguyên tử sẽ lắp thêm 400 - 800 MW nhưng thiết kế không thể hiện. Đối với Hoà Bình sau khi có thuỷ điện Sơn La lắp thêm 500 - 1000 MW.
Thiết kế phương án này tôi đã báo cáo với HĐ TĐ nhà nước tại EVN, và nhấn mạnh rằng nếu không quyết định sớm để xây dựng kịp và tiến độ hoàn thành thuỷ điện Sơn La thì rất lãng phí và không góp phần chống lũ cho Hoà Bình được tốt hơn.
- Cụ thể theo dõi 10 năm vận hành của nhà máy thuỷ điện Hoà Bình từ năm 1999 đến nay cho thấy: Lượng nước xả thừa hàng năm trung bình là 14,175 tỷ m3, có các năm lên đến 22,133 tỷ và 28,635 tỷ m3 nước, chiếm 27% lượng nước đến. Tương ứng 3,316 tỷ kWh điện (lý thuyết) và 2,5 tỷ KWh điện hiệu dụng, chiếm 25% lượng điện có được. Trong khi đó tiêu chuẩn thiết kế chỉ được 10 - 15% lượng nước đến và điện lượng ra.
Đó là con số lãng phí rất lớn, nếu sau khi vận hành thủy điện Sơn La không được khắc phục con số này sẽ kinh khủng hơn nữa.
Với bức thư này kính đề nghị các đồng chí hết sức quan tâm, sớm quyết định chọn Chủ đầu tư có đủ điều kiện để triển khai nhanh nhất dự án này, tránh lãng phí tài sản lớn của Nhà nước mà pháp luật, Đảng và Chính phủ đã luôn luôn quan tâm.








