Biểu hiện hồi lưu dạ dày - thực quản ngoài hệ tiêu hóa ở người lớn
Biểu hiện hô hấp chính yếucó thể rõ nét hay nặng thêm do hồi lưu là: ho mãn tính và cơn khó thở dạng hen suyễn. Hồi lưu dạ dày - thực quản có thể can hệ trên 20% quang phổi bình thường. Khi đã loại ra các nguyên nhân khác của ho mãn tính (thuốc lá, thuốc uống, hen suyễn, viêm phế quản mạn, mũi chảy ngược ra sau), hồi lưu dạ dày - thựuc quản giải thích được gần 80% trường hợp. Trong tiến trình hen suyễn hồi lưu dạ dày - thực quản được phát hiện từ 34 – 89% số bệnh nhân; đóng vai trò tác nhân hay làm nặng thêm bệnh tình ở những người này.
Hồi lưu dạ dày - thực quản cũng bị coi là tác nhân trong các bệnh viêm phế quản - phổi tái đi tái lại, bệnh phế quản phổi mạn cả đến xơ phổi.
Các triệu chứng tai - mũi - họngtruy nguyên hồi lưu dạ dày - thực quản có thể là do miệng - hầu, thanh quản hay ở tai. Có thể là đau họng mãn tính được tả như co thắt, rát hay hột me nằm chặn ở cổ, tạo tật dặng hắng thường xuyên, gây thương tổn viêm miệng - hầu, duy trì tật, được chẩn đoán “viêm họng hạt, chữa hoài không khỏi”. Triệu chứng thường gặp ở thanh quản là chứng khó phát âm mạn tính, nặng nhẹ theo thời gian; khám thanh quản có thể bình thường hay đỏ hoặc phù nề ở phía sau. Trong vài loại viêm xoang, đau tai một bên (trái) có khi cũng quy cho hồi lưu dạ dày - thực quản. Gần đây, khoa nha cũng phát giác nguyên nhân gây răng bị ăn mòn và viêm lợi do hồi lưu dạ dày - thực quản.
Các triệu chứng có vẻ từ timchủ yếu là đau kiểu đau thắt ngực. Chỉ đặt vấn đề hồi lưu dạ dày - thực quản khi tổng kê kỹ càng về tim mạch mà âm tính. Cần nhấn mạnh tổng kê đầu tiên bắt buộc phải bình thường, vì lẽ cứ 2 bệnh nhân mạch vành là có một người bị hồi lưu; và trong số thăm dò bệnh nhân mạch vành có độ 30% trong số bệnh nhân vấn đề hồi lưu được đặt ra.
Rối loạn giấc ngủmới được nghiên cứu gần đây: khó dỗ giấc ngủ, dễ giật mình, thức đêm, chiêm bao mộng mị, dậy sớm… tạo mệt buổi sáng, ngủ gà ban ngày, ảnh hưởng đến công tác.
Làm sao chứng minh mối liên hệ với hồi lưu dạ dày - thực quản?
Đặt vấn đề tiềm tàng của hồi lưu khi các triệu chứng ở hệ hô hấp, tai - mũi - họng hay tim không được cải thiện sau một đợt điều trị đặc thù và/ hoặc khi một tổng kê không giải thích được rõ ràng. Trong trường hợp hen suyễn, ho mãn tính hoặc những biểu hiện tai - mũi - họng, tổng kê dễ kết luận, còn trong trường hợp mạch vành vấn đề vẫn gay go. Chưa có một chiến lược hợp thức với chứng cứ thoả mãn; dĩ nhiên, trong tổng kê vẫn lưu ý đến thể địa và lâm sàng; bệnh nhân tương đối trẻ (45 - 50 tuổi), không mang yếu tố nguy cơ mạch vành, nghiệm pháp gắng sức, chụp lấp lánh với thallium âm tính… là những yếu tố có lợi cho hướng chẩn đoán hồi lưu dạ dày - thực quản.
Cận lâm sàng
Không ghi lại đây các khám nghệm cận lâm sàng được khuyên thực hiện trong y văn: nội soi, ghi pH thực quản liên tục suốt 24 tiếng, ghi điện trở thực quản (trong trường hợp chất trào không axit).
Điều trị thử nghiệm
Dĩ nhiên chỉ dùng đơn độc ức chế bơm proton mà không dùng kèm theo cách điều trị nào khác (ho, hen suyễn…). Được khuyên dùng liều gấp đôi liều thông thường; thời gian: độ 2 tháng. Hai tư thế sau đây rất quan trọng, đôi khi đủ để chữa, không cần dùng thuốc: kê cao nửa người phía trên (đầu giường) khi ngủ và nằm nghiêng bên trái.








