Biện pháp phòng trừ sâu bệnh chính hại vải theo hướng GAP ở Bắc Giang
Vảithiều đạt tiêu chuẩn an toàn:
- Có màu sắc, kích thước quả, độ ngọt, hương vị đúng phẩm chất của giống
- Sản phẩm phải đảm bảo độ an toàn, không có độc tố như các kim loại nặng, tồn dư thuốc bảo vệ thực vật.
- Không có sinh vật hoặc tồn dư của sinh vật trong quả: Sâuđục cuống quả, ruồi đục quả, các nấm bệnhhạitrên quả, vi sinh vật gây bệnh.
Để sản xuất vảithiều an toàn, thực hiện biệnphápbảo vệ thực vật là một trong các khâu quan trọng nhất, quyết định mức độ an toàn của sản phẩm. Vậy cần thực hiện tốt các yêu cầu kỹ thuật qua từng giai đoạn sinh trư ởng, phát triển của cây, như sau:
1. Điều tra dự báo sâubệnhhạitrên đồng ruộng
Định kỳ 5-7 ngày/lần điều tra tình hình phát sinh sâubệnhtrên vải, kết hợp sử dụng các bẫy bả như bẫy pheromon, vizu bon; cho dự báo và có kế hoạch phòngtrừkịp thời để hạn chế lượng thuốc sử dụng trên đồng ruộng.
2. Kỹ thuật phòngtrừ
Thực hiện tốt các biệnphápcanh tác như tạo tán, tỉa cành để hạn chế sâubệnhhại. Phòngtrừsâubệnhtheođiều tra dự báo. Chỉ sử dụng thuốc khi cần thiết, ưu tiên sử dụng các chế phẩm sinh học: nấm, V-Bt và các thuốc có nguồn gốc sinh học. Đối với thuốc hoá học, chỉ sử dụng các thuốc có trong danh mục được phép.
Thường xuyên điều tra và phòngtrừthích hợp theocác giai đoạn phát triển của cây:
* Giai đoạn trước khi ra nụ và hoa
- Phòngtrừnhện lông nhung: Cắt hết cành lộc bị hạikhi tỉa cành tạo tán, thường xuyên vệ sinh vườn, chăm sóc cho ra lộc tập trung. Hạn chế tối đa phát triển lộc đông để ngắt quãng nguồn thức ăn cho nhện và sâuđo, giảm gối lứa năm sau. Nếu năm trước có mật độ nhện cao thì phải phun thuốc trên lộc đông và lộc thu. Sử dụng thuốc: Pegasus 500 ND, Ortus3SC, Regent 800 WG phun theonồng độ khuyến cáo ghi trên bao bì.
- Phòngtrừrệp muội: tập trung vào cuối tháng 11, đầu tháng 12, sử dụng thuốc Bi 58 0,2%, Sherpa 0,2% để hạn chế nguồn rệp gây hạitrên lộc xuân.
* Giai đoạn cây phân hóa mầm hoa - hoa n ở
Đây là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa đông sang mùa xuân nên sâubệnhtập trung nhiều: Nhện lông nhung, bọ xít, rệp muội, sâuđo, bệnhsương mai và thán thư cũng xuất hiện trên chùm hoa... mặc dù mật độ không cao nhưng là nguồn phát sinh các lứa sâutiếp theo.
- Chú ý các vườn, cây không ra nụ hoa cần theodõi và phòngtrừnhện lông nhung, sâuđo, phòngtrừcục bộ (các cây có sâubệnh) để bệnhkhông lây lan, bằng cách:
+ Đối với nhện lông nhung: Cắt hết cành lộc bị hại. Nếu năm tr¬ước nhện có mật độ cao thì phải phun các loại thuốc: Pegasus 500 ND, Ortus3SC, Regent 800 WG nồng độ 0,1%. Với sâuđo, dùng Fumai hoặc chế phẩm nấm Metarhizium phun vào các chồi non.
+ Phòngtrừbọ xít: Diệt bọ xít qua đông bằng vợt hoặc rung cây để bắt. Phun thuốc diệt bọ xít tr¬ư ởng thành hiệu quả nhất vào tháng 3, khi chúng qua đông và ra vư¬ờn giao phối để thực hiện chu trình sinh sản mới. Thuốc sử dụng Sherpa 25EC nồng độ 0,1%, Fatax 50EC nồng độ 0,1%, Reasgant 1,8EC hoặc 3,6EC hoặc Bull Star 262,5 EC, Trebon 20EC
+ Rệp muội cũng là đối tượng gây hạitrong giai đoạn này. Trên lộc xuân vào cuối thời kỳ ra hoa, trên các chùm hoa nếu thấy mật độ rệp cao có thể sử dụng phun thuốc Trebon.
+ Bệnhsương mai và thán thư cũng là đối tượng gây hại: nếu thời tiết khô hanh, không có mưa phùn, không nhất thiết phải phun thuốc. Ngược lại, thời tiết âm u mưa phùn ẩm độ cao cần chú ý phun thuốc trừbệnhtrên các chùm hoa (không phun thuốc khi hoa cái đang n ởrộ).
* Giai đoạn từ đậu quả - đến hình thành cùi
Giai đoạn này sâuđo thường tập trung đẻ trứng ngay trên quả non, lúc đó sâunon n ởra gặm vỏ quả làm quả rụng hay gây sát thương, tạo điều kiện cho nấm bệnhphát sinh. Chú ý phòngtrừbằng các loại thuốc nêu trên để đảm bảo mật độ quả.
- Ngoài sâuđo, người trồng vảicần chú ý theodõi để phòngtrừbệnhthán thư khi thời tiết thuận lợi cho bệnhphát sinh. Cần tỉa bớt cành sâubệnhvà cành không có quả để cây thông thoáng, hạn chế sự phát sinh của sâubệnh.
* Giai đoạn quả kéo cùi kín đến chín
Đây là giai đoạn quyết định nhất đến chất lượng quả cũng như về an toàn thực phẩm. Các loại sâuhạiquan trọng như sâuđục cuống quả và ruồi hạiquả kết hợp với bệnhthán thư, sương mai và nứt quả làm ảnh hư ởng đến năng suất và chất lượng quả.
+ Sâuđục cuống quả: Sử dụng bẫy pheromon dự báo để phòngtrừbệnh. Khi bướm rộ với mật độ cao thì tiến hành phòngtrừbằng thuốc hoá học như: Padan 95 SP nồng độ 0,1%, Regent 800 WG nồng độ 0,1%. Thường xuyên tỉa cành cho vườn thông thoáng để hạn chế nơi trú ngụ của sâu.
+ Ruồi hạiquả: cần phát hiện sớm, ngay từ đầu tháng 5, sử dụng bẫy bả để dự báo và phòngtrừruồi. Ruồi đục quả vào bẫy rộ tiến hành phun thuốc Padan 95SP nồng độ 0,1% kết hợp trừsâuđục cuống quả.
+ Bệnhsương mai: Nếu thời tiết rét muộn, trời âm u, nhiều sương nên phun thuốc phòngbệnhsương mai như Ridomil MZ 72 WP nồng độ 0,3%, hoặc Booc đô nồng độ 1%. Vào tháng 6, trước khi quả chín, gặp mưa nhiều, nhiệt độ cao cần đề phòngbệnhphát sinh vào giai đoạn quả chín.
+ Bệnhthán thư: thời tiết nóng ẩm và mưa, trên quả vảicó các vết chàm xanh biểu hiện bệnhphát sinh. Vết chàm chuyển màu mực thẫm là bệnhphát triển mạnh, cần phun thuốc Bavistin 50 fl, Anvil 5SC, Topsin M 70 WP nồng độ 0,2%.
Lưu ý: Ngừng phun thuốc trước khi thu hoạch 15 ngày để đảm bảo vệ sinh an toàn sản phẩm.
3. Vệ sinh đồng ruộng và an toàn thực phẩm
Vệ sinh đồng ruộng là khâu cuối cùng của công tác bảo vệ thực vật trong sản xuất vảian toàn. Một số hộ gia đình có thói quen sau khi phun thuốc để lại các bao bì thuốc rải rác trên vườn vảigây ô nhiễm môi trường và ảnh hư ởng đến an toàn vệ sinh thực phẩm. Đa số hộ nông dân phun thuốc phòngtrừsâu, bệnhtheokinh nghiệm, vì vậy số lần phun cao.
Khâu thu hoạch, người dân có thói quen thu hái và đổ vảingay xuống đất vườn, đường đi, sân... trước khi chọn lựa đóng gói, làm cho quả bị tổn thương, dập nát, nhiễm bẩn, dẫn đến sản phẩm nhanh xuống cấp và thối khi vận chuyển lưu thông. Vị trí đóng gói sản phẩm đôi khi còn gần kề với chuồng, trại chăn nuôi. Hầu hết người dân chưa nắm được kỹ thuật sản xuất vảithiều theohướngGAP.
Viện Bảo vệ thực vật đã triển khai mô hình sản xuất vảitheohướngGAP, làm tốt các khâu kỹ thuật và công tác điều tra trên đồng ruộng, đã phát hiện sớm sâubệnhhạivà tổ chức phòngtrừkịp thời. Mật độ sâu, bệnhtrên vườn vảitrong vùng thấp hơn hẳn so với vùng sản xuất đại trà. Quả to, sai, mẫu mã quả có màu đỏ tươi, đạt yêu cầu. Tỷ lệ sâu, bệnhtồn dư trên quả thấp, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm ởdưới ngưỡng cho phép. Giá trị năng suất thu hoạch trong vùng sản xuất vảian toàn cao hơn vùng sản xuất đại trà 9,43 triệu đồng/ha.








