Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 16/10/2006 22:44 (GMT+7)

Biện pháp kỹ thuật để hạn chế & khắc phục bệnh cá trong giai đoạn chuyển mùa

I. Những nguyên nhân có thể dẫn đến bệnh cá:


I.1 Chất lượng nước bị thay đổi:


- Nhiệt độ nước thay đổi đột ngột vào tháng 12-2 (có thể xuống thấp đến 16-22 oC) hoặc nhiệt độ tăng cao vào tháng 3-5 (lên đến 30-35 oC) đều làm cho cá bỏ ăn, suy yếu tạo điều kiện cho sinh vật gây bệnh cá phát triển, làm cho cá dễ bệnh.


- Nguồn nước nuôi bị nhiễm bẩn bởi chất thải từ các nhà máy, dầu xả các ghe tàu, thuốc trừ sâu, và nước phèn đổ ra từ ruộng vào các tháng mùa khô cũng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe của cá nuôi.


- Khi nước đứng hoặc chảy yếu, cá nuôi trong điều kiện mật độ cao có thể thiếu oxy để thở, cá sẽ bơi lội hỗn loạn, nhảy nhào trong lồng và có thể chết. Lúc này cần phải kịp thời dùng máy bơm quạt nước để tăng cường trao đổi nước, cải thiện hàm lượng oxy trong môi trường nuôi.


- Khi nước chảy quá mạnh, cá phải bơi lội liên tục, tiêu tốn nhiều năng lượng, giảm sức, chậm lớn, từ đó tạo điều kiện cho mầm bệnh dễ dàng xâm nhập vào cá nuôi. Trường hợp này phải điều chỉnh khoảng cách giữa các thanh gỗ hay tre ở hai đầu bè cho thích hợp.


I.2 Chất lượng thức ăn kém:


Chất lượng thức ăn có vai trò rất quan trọng đối với nuôi cá thâm canh, đặc biệt là nuôi cá bè. Thức ăn chất lượng tốt sẽ phòng tránh các bệnh dinh dưỡng và cần cho việc phòng các bệnh liên quan tới nhiễm trùng và stresskhác.


Nếu cá bị đói sau một thời gian dài hoặc thức ăn kém chất lượng sẽ dẫn đến cá bị suy yếu, chậm lớn và có thể tạo điều kiện cho tác nhân gây bệnh tấn công.


I.3 Thiếu cẩn thận khi chăm sóc cá:


- Các dụng cụ cho ăn không được vệ sinh thường xuyên là nơi ẩn chứa mầm bệnh.


Các dụng cụ vận chuyển, bắt cá như lưới vợt, thùng… có thể làm xây xát cá trong quá trình thao tác và vì thế mầm bệnh có điều kiện xâm nhập vào cá nuôi.Do đó phải dùng các dụng cụ nhẵn, lưới không gút để hạn chế trường hợp này.


I.4 Nguồn giống thả kém chất lượng:


Cá có thể đã bị mắc bệnh từ nguồn giống thả nuôi chưa được kiểm tra chất lượng, chưa được chọn lựa kỹ còn mang mầm bệnh hoặc giống chưa được xử lý diệt trùng, khi cá thả xuống nuôi một thời gian gặp thời tiết thay đổi sẽ thuận lợi cho mầm bệnh phát triển. Cá yếu là cơ hội cho bệnh cá phát sinh và gây hại cho cá trong ao nuôi.


II. Phòng và trị một số bệnh cá thường gặp:


II. 1 Phòng bệnh:


Việc duy trì sức khỏe tốt cho cá rất quan trọng để việc nuôi cá có lợi nhuận. Tăng trưởng chậm, tiêu tốn thức ăn nhiều, năng suất thấp, tỉ lệ nhiễm bệnh và chết tăng, hậu quả dẫn đến lợi nhuận thấp do kết quả sức khỏe của cá kém.


Trong giai đoạn chuyển mùa, thời tiết thay đổi đột ngột dễ làm cho cá bị stress, tác nhân gây bênh có điều kiện phát triển và xâm nhập vào vật nuôi. Nên điều cơ bản để giữ sức khỏe và phòng bệnh cho đàn cá là việc tránh stressbằng cách duy trì chất lượng môi trường qua việc chăm sóc đúng.


II.1.1 Cải tạo môi trường:


a. Chuẩn bị ao, bè nuôi:


Sau khi thu hoạch, các ao, hầm, bè muốn sử dụng lại nhất thiết phải được cải tạo để tạo môi trường sống tốt cho thủy sản nuôi nhằm phòng bệnh và nâng cao năng suất cá nuôi.


- Tát cạn nước, sên vét bùn ra khỏi ao (không để lại bùn thối trong ao), phơi ao 5-7 ngày;


- Tu sửa lại bờ ao, cống bọng, làm vệ sinh mương cấp, thoát nước;


b. Tẩy độc cho ao, bè nuôi:


- Dùng vôi (CaO) để tẩy độc và trung hòa pH: sử dụng 10-15kg/100m 2rãi đều đáy ao, bờ ao; trường hợp ao có phèn (pH nhỏ hơn 5) thì dùng 15-20kg/100m 2; đối với những ao không thể rút cạn nước, dùng vôi từ 0,5- 1kg/m 3để rãi trực tiếp xuống ao. Nên rãi vôi vào ngày nắng, chú ý những nơi có bùn đọng.


- Dùng rễ cây thuốc cá: 4g/m 3hay saponin để diệt tạp.


- Chà rửa sạch, phơi khô lồng bè, sau đó quét hoặc phun Clorua vôi Ca(OCl) 2với lượng 200-250g/m 3bè.


II.1.2 Tăng cường chăm sóc quản lý:


a. Tẩy trùng cho cá:


Khi nhận giống về nuôi, trước khi thả nên:


- Tắm cá: bằng cách dùng muối ăn 2-4g/l trong 15-20 phút hoặc dùng formalin 25-30 g/m 3để diệt trùng và nấm gây bệnh cho cá;


- Phun thuốc xuống ao: dùng Clorin 1g/m 3hoặc CuSO 40,2-0,5g/m 3nước ao;


Trong quá trình nuôi, định kỳ bón vôi xuống ao từ 1,5-2kg/100m 3và treo túi thuốc trong lồng bè: có thể dùng Clorin 10-20g/m 3bè.


b. Tẩy trùng nơi cho ăn:


Vôi 2-4kg/túi treo quanh chỗ cho ăn, 5-7 ngày thay túi;


Clorin 200- 250g/m 3để tẩy trùng dụng cụ trong 12-24 giờ.


c. Chọn giống thả:


Không nên thả với mật độ quá dày, giống thả mới hoặc bổ sung nên yêu cầu được cung cấp giống đã được chứng nhận kiểm dịch và phải đảm bảo đạt tiêu chuẩn chất lượng:


Kích cỡ đồng đều, ngoại hình cân đối, không dị hình;


Khỏe mạnh, không bị nhiễm bệnh;


Không xây xát, nhiều nhớt, bơi lội nhanh nhẹn.


Lưu ý, trong quá trình nuôi nên:


* Định kỳ 2 lần/ tuần bổ sung Vitamin C cho cá ăn với liều trộn 40g/100kg thức ăn.


* Dùng thuốc tiêu Nabica 2 lần/ tuần với liều trộn 30 viên/100kg thức ăn.


* Có thể dùng Thyromin cho ăn 2lần/ tuần (theo hướng dẫn ghi trên bao bì)


Ngoài ra còn phải thường xuyên theo dõi hoạt động của cá để kịp thời phát hiện những vấn đề không bình thường; cho cá ăn thức ăn phải đảm bảo chất lượng và đủ số lượng; định kỳ bón phân; thường xuyên vệ sinh chung quanh khu vực nuôi, thức ăn dư thừa và diệt trừ địch hại.


II.2. Chẩn đoán và biện pháp xử lý một số bệnh thường gặp:


1. Bệnh đốm đỏ:


a. Nguyên nhân:
do môi trường thay đổi, cá bị xây xát do vận chuyển, đánh bắt, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh.


b. Triệu chứng:
Có thể xuất hiện riêng lẻ hay đồng thời.


Bụng trương lên và có dịch màu xanh nhạt hay vàng nhạt trong khoang bụng;


Da đỏ, xuất hiện nhiều vùng lở loét;


Thận sưng lên;


Gan màu vàng nhạt hay nâu nhạt;


Tuột vẩy, mắt bị nổ;


Nhiều vết lở loét, nhiễm trùng bên trong thân.


c. Chẩn đoán:
do vi khuẩn gây nên.


d
. Xử lý :dùng thuốc kháng sinh như Erythromycine, Oxytetracyline, Oxolinic axit… trộn vào thức ăn cho cá ăn với liều 50mg/kg cá /ngày (khoảng 1,5- 1,7g thuốc/kg thức ăn, tùy vào cỡ cá) cho cá ăn liên tiếp trong 5 ngày; hoặc dùng Tetraxycline 20-25g/m 3nước tắm cho cá trong 1 giờ; hoặc dùng nước muối có nồng độ 4% tắm cho cá trong 10 phút có sục khí.


2. Hội chứng lở loét:


a. Tác nhân gây bệnh:


Do một loạt các yếu tố vô sinh và hữu sinh, nhưng nguyên nhân cơ bản chắc chắn là do tác nhân truyền nhiễm sinh học như: vi khuẩn, virus, nấm và ký sinh trùng… Trong đó, nguyên nhân gây bệnh đầu tiên do virus đã được coi là một khả năng, còn vi khuẩn lại là nguyên nhân cuối cùng gây chết những cá bị nhiễm bệnh nặng. Ngoài ra, nấm đã được coi là có vai trò quan trọng trong hội chứng dịch bệnh lở loét,có thể chúng cùng với ký sinh trùng làm cho cá bị thương, tạo điều kiện cho các tác nhân chính gây bệnh cho cá.


b. Triệu chứng:


- Hiện tượng: Cá bỏ ăn, bơi nhô đầu khỏi mặt nước, nổi lờ đờ và chết, khi chết thường chìm xuống đáy.


- Dấu hiệu bên ngoài: Xuất hiện các vết loét nhỏ màu xám hoặc đỏ. Mang, xung quanh mắt và da xuất huyết, toàn thân có màu tối (xám đen). Thương tổn lan rộng thành những vết loét lớn, rụng vẩy, viêm, phù nề. Khi cá bệnh nặng sẽ thấy máu chảy ra ở vùng hậu môn.


- Dấu hiệu bên trong: trong xoang bụng xuất huyết và chứa nhiều dịch nhờn, có dấu hiệu tích nước, bóng hơi xuất huyết và teo dần một ngăn, ngoài ra tim, gan thận đều có hiện tượng xuất huyết.


c. Phòng và trị bệnh
: hiện nay vẫn chưa tìm được phương pháp chữa trị hữu hiệu đối với những bệnh do virus gây ra và do chưa rõ nguyên nhân chính gây nên dịch bệnh nên việc điều trị gặp nhiều khó khăn.


Do đó phương pháp phòng bệnh đóng vai trò quyết định đến kết quả nuôi, trong đó tẩy dọn ao theo đúng quy trình kỹ thuật để diệt trùng, kiềm hóa môi trường, kim hãm sự phát triển của mầm bệnh, cho cá ăn đủ chất dinh dưỡng và duy trì chất lượng nguồn nước nuôi tốt là những biện pháp rất quan trọng phải được quan tâm hàng đầu.


Ngoài ra, có thể dùng một số hóa chất để xử lý môi trường và xử lý cá bệnh để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh như:


+ Dùng vôi (150 – 600kg/ha) bón cho ao 2 tuần/ lần để khử trùng và tăng độ kiềm cho nước ao, hoặc dùng muối với liều lượng 1% để làm giảm độ độc của NH 3, NO 2; cũng có thể dùng Clorua vôi (5-19 kg/ha) để khử trùng nước ao; thuốc tím (3-5kg/ha) có tác dụng ngăn chặn nhiễm bệnh tái phát.


+ Tắm cho cá trong nước muối 3-4% thời gian 5-10 phút để diệt ký sinh trùng, ngăn chặn vi khuẩn và nấm; hoặc dùng Malachite green 1 ppm để tắm cho cá trong 30-60 phút để diệt ký sinh trùng và nấm.


3. Bệnh trùng bánh xe:


a. Nguyên nhân:
do trùng bánh xe Trichodina ký sinh ở da và mang cá, bệnh thường phát triển vào những ngày trời không nắng, âm u hoặc mưa kéo dài.


b. Triệu chứng:
màu sắc cá nhợt nhạt, thân cá có nhiều nhớt màu trắng đục; đuôi, vây bị xơ mòn, bơi lội không định hướng, thân cọ vào cây cỏ như bị ngứa.


c. Trị bệnh
: có nhiều loại hóa chất có thể dùng để chữa trị bệnh này, ở đây xin giới thiệu hai phương pháp chữa trị an toàn mà hiệu quả lại khá tốt, đó là:


- Tắm cá: dùng muối ăn (NaCl) với nồng độ 2-3% tắm cho cá 5-10 phút hoặc dùng CuSO 4(phèn xanh) với nồng độ 3-5 ppm (3-5g/m 3nước) tắm cho cá 5-10 phút


- Phun thuốc trực tiếp xuống ao: dùng CuSO 4với nồng độ 0,5-0,7ppm (0,5-0,7g/m 3nước).


Người nuôi có thể áp dụng 1 trong 2 cách trên sau khoảng 2-3 ngày cá sẽ hết bệnh..


4. Bệnh sán lá đơn chủ:


a. Tác nhân gây bệnh:
do sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus hoặc 18 móc (Gyrodactylogyrus) ký sinh vào da và mang cá.


b. Triệu chứng
: Cá bệnh thường hô hấp kém do mang và da tiết ra nhiều dịch nhờn; tổ chức da và mang bị sán ký sinh sẽ viêm loét, tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm và một số vi sinh vật khác gây bệnh.


c. Trị bệnh:
tắm cá trong nước muối 3% trong 3-5 phút hoặc dùng Dipterex phun xuống ao với nồng độ 0.2-0.3ppm (loại Dipterex tinh thể 90%). Nếu dùng loại Dipterex thương mại (2.5%) thì dùng 5-10g/m 3đều có tác dụng trị bệnh tốt.


Chú ý:
khi tắm thuốc cho cá cần phải sục khí; trong khi tắm, nếu thấy cá có hiện tượng khác thường như: đớp khí ở mặt nước, cá quậy hỗn loạn hay nhảy lên khỏi dụng cụ chứa thì phải vớt cá ra ngay.


Lưu ý:
Trong quá trình trị bệnh cho cá.


- Chỉ nên sử dụng kháng sinh khi thật cần thiết bởi vì kháng sinh không có tác dụng điều trị khi tôm cá bị bệnh do nấm, động vật nguyên sinh hay nhiễm virus mà chỉ có hiệu quả đối với vi khuẩn gây bệnh.


Tuyệt đối không dùng các loại kháng sinh bị cấm sử dụng theo Quyết định số 01/2002/QĐ-BTS ngày 22/01/2002 của Bộ trưởng Bộ Thủy sản./.

Nguồn: Bản tin Nông nghiệp và Nông thôn Vĩnh Long, số 21, 06/2003

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.
Tuyên Quang: Thúc đẩy năng lực triển khai năng lực hoạt động KHCN, ĐMST và CĐS trong sinh viên
Ngày 21/4, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (KH&KT) tỉnh Tuyên Quang phối hợp với Trường Cao đẳng Tuyên Quang tổ chức Hội thảo tập huấn, phổ biến kiến thức “Thúc đẩy năng lực triển khai hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong sinh viên” bằng hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Đổi mới công tác phổ biến kiến thức KH&CN: Từ truyền thông một chiều đến hệ sinh thái tri thức mở
Những năm qua hoạt động phổ biến kiến thức của các tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam đã được triển khai rộng rãi, đem lại hiệu quả cao trong thực tiễn. Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển mới, hoạt động này cần được đổi mới theo hướng hiện đại, tương tác và gắn chặt hơn với nhu cầu của xã hội.
Lâm Đồng: Gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026
Chiều ngày 15/4, Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Lâm Đồng tổ chức Hội nghị gặp mặt đại biểu trí thức tiêu biểu năm 2026. Dự và chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Y Thanh Hà Niê Kđăm - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh cùng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, lãnh đạo các sở, ban, ngành và 150 đại biểu trí thức tiêu biểu của tỉnh.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: Hội Chăn nuôi Việt Nam góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN vào phát triển đất nước
Phát biểu chúc mừng Hội Chăn nuôi Việt Nam nhân Kỷ niệm 35 năm thành lập (19/4/1991 - 19/4/2026), Chủ tịch Phan Xuân Dũng khẳng định, với sự năng động và chuyên nghiệp, Hội Chăn nuôi Việt Nam đã góp phần khẳng định đóng góp của trí thức KH&CN trong sự nghiệp phát triển đất nước. Chủ tịch Phan Xuân Dũng đề nghị các thành viên của Hội giữ lửa đam mê, lấy khoa học công nghệ làm động lực phát triển.