Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 08/12/2009 16:02 (GMT+7)

Biến đổi văn hóa đô thị Hà Nội từ năm 1954 đến nay

Sự hội nhập của không gian văn hoá Thăng Long – Hà Nội và xứ Đoài.

Thủ đô Hà Nội nằm trên trục của châu thổ hình tam giác do sông Hồng và các phụ lưu của nó tạo nên với đỉnh là Việt Trì (Phú Thọ) và cạnh đáy là đường biển Vịnh Bắc bộ. Địa thế “tiện hướng nhìn sông dựa núi” như Lý Công Uẩn viết trong Chiều dời đô, đã quy tụ một mạng lưới đường bộ và sông ngòi lên rừng, xuống biển, ra bắc, vào nam dễ dàng. Với việc mở rộng địa giới hành chính lãnh thổ gồm cả xứ Đoài, giờ đây sông, ngòi, núi tạo nên bức tranh đặc sắc của môi trường tự nhiên không gian văn hoá Hà Nội mới. Môi trường tự nhiên ở đây luôn mang đậm chất lịch sử, văn hoá, nhất là ở tiểu vùng Hồ Gươm, Hồ Tây của Thăng Long – Hà Nội và tiểu vùng đô thị Sơn Tây của xứ Đoài.

Theo tinh thần quy hoạch phát triển đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được điều chỉnh và xem xét tổng thể không gian Hà Nội mới, thì thành phố trung tâm (nội thành) được xây dựng theo hướng mở rộng ra ngoại vi, bằng một hệ thống các khu công nghiệp mới và các đô thị hiện đại. Phần lớn các đô thị đều coi sông, hồ, núi như nguồn lợi thiên nhiên quý giá, để tạo môi trường sinh thái cho quá trình phát triển.

Từ năm 1986 đến nay, đặc biệt hiện nay, cơ cấu không gian đô thị Hà Nội mới đã và sẽ bao gồm thành phố trung tâm (nội thành) và các đô thị vệ tinh thuộc các tỉnh ráp ranh: Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên và Hải Dương, với bán kính ảnh hưởng từ 30 – 60km. Về lâu dài, thành phố trung tâm chủ yếu phát triển về hướng Tây trên cơ sở hình thành cụm đô thị Sơn Tây, Hoà Lạc (Hà Nội), Xuân Hoà - Đại Lải – Phúc Yên (Vĩnh Phúc) và một số đô thị khác. Trên cơ sở đó, sẽ hình thành vùng Thủ đô rộng lớn.

Nếu không gian lãnh thổ truyền thống của Thăng Long – Hà Nội cơ bản dựa vào sông Tô Lịch, Hồ Gươm và vươn ra một bên bờ sông Cái (sông Hồng); thì không gian lãnh thổ của Hà Nội hiện đại, cơ bản soi mình bên hai bờ tả hữu sông Hồng, với một số điểm nhấn về môi trường thiên nhiên, như: sông Tô Lịch, Hồ Tây, Hồ Gươm. Đây là một sự biến đổi, phát triển có kế thừa truyền thống “thành phố trong sông” của Thăng Long – Hà Nội. Thành phố trung tâm có thế “tựa núi” là các đô thị vệ tinh, như Sơn Tây, Hoà Lạc…

Đặc trưng văn hoá đô thị vẫn là nếp sống thanh lịch Thăng Long – Hà Nội.

Từ khi trở thành quốc đô, văn hoá đô thị ở Hà Nội mới thực sự phát triển mạnh. Người Hà Nội lớp lớp kế tiếp nhau từ “tứ chiếng” tụ về. Họ sống và hoạt động trong môi trường đô thị với những đặc trưng văn hoá đa quan hệ, đa phương tri thức, đa ngành nghề, đa phong cách văn hoá địa phương. Qua bao biến thiên của lịch sử, của chốn phồn hoa đô thị, Hà Nội vẫn định hình được những nếp sống thanh lịch trong văn hoá đô thị của mình.

Nếp sống thanh lịch Hà Nội được hình thành không chỉ thông qua quá trình định hình, định tính của văn hoá đô thị, mà cũng là kết quả của quá trình giáo hoá có chủ đích của các triều đại phong kiến và của các dòng họ về đạo đức, về kỹ năng sống để làm rạng danh bản sắc văn hoá Việt Nam, bản sắc văn hoá đô thị ở Hà Nội cơ bản dựa vào nếp sống thanh lịch, và trong quá trình biến đổi nếp sống thanh lịch không phải là không có sự thay đổi, thể hiện ở các phương diện sau:

- Nếp nghĩ, nếp cảm (có thể gọi là lẽ sống): Nếu văn hoá đô thị Huế được đặc trưng ở nếp sống thiên về cân bằng – tĩnh lặng, văn hoá đô thị ở Thành phố Hồ Chí Minh thiên về cân bằng – năng động, thì văn hoá Hà Nội, thiên về cân bằng – linh hoạt. Nếp nghĩ, nếp cảm là phương diện ý thức của nếp sống, nó định hướng lối sống, dần dần tạo thành thói quen, thành nếp trong hoạt động sống (kinh tế, chính trị, xã hội) và cả trong sinh hoạt thường nhật.

- Tổ chức đời sống cộng đồng: Cân bằng giữa biểu tượng và bản sắc quốc gia với biểu tượng và bản sắc kinh kỳ (thủ đô).

- Tổ chức đời sống cá nhân: Thể hiện ở tín ngưỡng, phong tục, tập quán, nghệ thuật, ngôn ngữ, sinh hoạt, giao tiếp và ứng xử. Trong đó nổi bật là nét lịch sự, xã giao mà không khó gần, sang trọng mà không cầu kỳ và có ngôn ngữ thuộc loại chuẩn cho tiếng Việt cả nước.

- Nếp ứng xử với môi trường tự nhiên: Từ ăn, mặc, ở, đi lại cho đến cách thức sản xuất, kinh doanh thể hiện sự thanh đạm, khoan hoà, khéo léo, chuyên cần và giàu óc sáng tạo. Nét hào hoa và tao nhã nhuốm sang cả cách thức làm ăn, như làm giấy dó, trồng hoa, cây cảnh, rau thơm và các nghề thủ công mỹ nghệ tinh xảo…

- Nếp ứng xử với môi trường xã hội: thể hiện ở tính dung hợp, tính khoan dung văn hoá trong giao tiếp, ứng xử với phong tục, tập quán, tôn giáo, văn hoá, khoa học, kỹ thuật, công nghệ các địa phương trong nước cũng như khu vực và thế giới.

Nếp sống thanh lịch Hà Nội thể hiện một văn hoá lối sống mang đậm chất văn hiến Việt Nam . Nó thể hiện trong nhận thức và cả trong lao động, sản xuất – kinh doanh cũng như trong các hoạt động xã hội khác, như: văn hoá, văn nghệ, tổ chức đời sống cá nhân và xã hội. Nó không chỉ là sản phẩm thụ động và cơ giới của quá trình sàng lọc lối sống “tứ chiếng”, để định hình, định tính nếp sống thanh lịch kinh kỳ (thủ đô). Nó đồng thời cũng là kết quả của quá trình giáo dục và quản lý của địa phương Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội và của chính quyền Trung ương, nhằm định hình một biểu trưng về sự hội tụ và chắt lọc cái tốt, cái hay, cái đẹp của lối sống quốc gia có chủ quyền và có nền văn hiến lâu đời.

Tính đa dạng tương đối về văn hoá giữa đô thị trung tâm (nội thành) với các đô thị vệ tinh ở ngoại thành.

Quá trình chuyển sang kinh tế thị trường và bước đầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ năm 1986, đặc biệt từ giữa những năm 1990 đã làm sắc nét và mở rộng phạm vi biến đổi, kể cả biến động về lối sống người Hà Nội, trong đó có nếp sống thanh lịch.

Đây là nơi tập trung các hoạt động chủ yếu của các cộng đồng xã hội; nơi hội tụ hầu hết các giá trị thuộc loại tiêu biểu của đất nước. Tầm cỡ tập trung càng lớn thì càng kết tụ đậm đặc các hoạt động kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá và giao dịch quốc tế. Không gian đô thị nhờ những đại lộ mới, cao ốc, công viên và các đô thị vệ tinh ở ngoại thành, thúc đẩy nâng cao tầm nhìn của con người. Đời sống Thủ đô với tính cách là trung tâm chính trị, đã tác động đến thế giới tinh thần, làm phát triển nhanh ý thức chính trị, ý thức dân chủ và công dân. Với tính cách là trung tâm khoa học, văn hoá và giao dịch quốc tế, đời sống Thủ đô có nhiều khả năng bồi dưỡng tri thức và năng lực sinh hoạt công cộng, nhờ đó có thể phát triển thế giới quan, nhân sinh quan và xã hội quan của từng người. Với tính cách là trung tâm kinh tế lớn, thủ đô có nhiều điều kiện nâng cao mức sống cho đại bộ phận thành viên xã hội.

Với tác động của nền kinh tế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo dẫn đến sự phân hoá trong quan hệ đối với tư liệu sản xuất, vai trò tổ chức quản lý lao động, và phân hoá trong tư tưởng, đạo đức, lối sống. Nhìn chung cơ cấu xã hội đô thị thường rất đa dạng về cư dân, sắc tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp… Bên cạnh việc tiếp thu cái hay, văn hoá Thủ đô cũng tiếp thu cả những cái dở từ nhiều địa phương khác nhau. Các dòng di cư tự do và sự thuyên chuyển nhân lực của các cơ quan, doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn Hà Nội, đã tiếp thêm nhiều nguồn lực cho Thủ đô, song cũng làm cho nếp sống truyền thống của đất Tràng An không còn ổn định trước tác động khá mạnh của văn hoá ngoại lai. Các dòng du lịch và giao dịch quốc tế, các phương tiện thông tin đại chúng từng ngày, từng giờ truyền bá lối sống tiêu dùng mang tính đại chúng, đã làm văn hoá khởi sắc, song cũng hàm chứa nguy cơ đồng dạng văn hoá trước lối sống đại chúng mang tính toàn cầu.

Do tiến trình đô thị hoá giờ đây gắn kết chặt chẽ với công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên toàn bộ không gian Thủ đô, đã đặt ra vấn đề không chỉ giới hạn nếp sống Thủ đô ở nếp sống thanh lịch Tràng An, và không chỉ giới hạn văn hoá đô thị Thủ đô ở văn hoá đô thị nội thành Hà Nội, mở ra tính đa dạng tương đối về nếp sống đô thị.

Tựu trung, trong quá trình lịch sử gần 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, văn hoá đô thị ở đây mặc dù trải qua nhiều giai đoạn biến đổi với nhiều đặc điểm, song nổi lên đặc điểm: biến đổi cơ bản thông qua quan hệ giữa thành và thị; biến đổi cơ bản thông qua mối quan hệ giữa phường nghề và phố thị; biến đổi theo kiểm đô thị hiện đại. Mặc dù có sự gián đoạn, song cho đến nay trong quá trình biến đổi văn hoá đô thị Hà Nội, nếp sống thanh lịch đã và vẫn sẽ là đặc trưng cho văn hoá đô thị Hà Nội. Theo tinh thần của Hồ Chí Minh, có thể dựa vào cái “bất biến” đó, để “ứng vạn biến” trong quá trình biển đổi văn hoá đô thị Hà Nội trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá.

___________

Chú thích:

(1) Xem Hồ Chí Minh Toàn tập, Nxb. CTQG, Hà Nội, 1995, T.5, tr. 94 – 96.

(2) Xem Sở VHTT Hà Nội, Nửa thế kỷ văn hoá – thông tin Hà Nội(1945 – 1995), Sđd, tr. 73 – 74.

(3) Xem Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát, Văn hoá Thủ đô hôm nay và ngày mai, Sở VHTT HN, 1991, tr. 38 – 39.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.