Biến chứng tiên lượng tử vong
“Bệnh thuộc cơ chế dương nhiệt tà thực, thường phát sinh nói sảng (thiềm ngữ); bệnh thuộc cơ chế tinh khí suy nhược, thường phát sinh nói lẫn (trịnh thanh). Triệu chứng nói lẫn, ý muốn nói là ngôn ngữ lặp đi lặp lại (tiếng nói thấp yếu).
Nếu như hai mắt đờ mà nói sảng, kiêm phát suyễn đầy trướng thường là tiên lượng tử vong; nếu kiêm triệu chứng tiêu chảy, cũng là tiên lượng tử vong”.
Nói sảng là nói năng lung lung, tiếng thô, có lực hần lớn thấy trong chứng dương minh thực nhiệt, do phân táo kết ở trong, trọc khí lên xâm phạm, tinh thần bị nhiệt tà hun đốt, phát sinh trạng thái tinh thần rối loạn, cho nên nói là chứng bệnh thực tính thì nói sảng (thiền ngữ).
Nói lẫn, tiếng thấp yếu, nói lặp đi lặp lại, tinh thần lúc tỉnh lúc mê, như sách Nội kinh nói: “tiếng nói yếu, suốt ngày nói đi nói lại” thường thấy trong trường hợp tinh thần suy nhược, không thể tự chủ; thuộc hư chứng;
Biến chứng nói sảng và nói lẫn trên lâm sàng tương đối dễ. Nhưng nên chú ý là nói sảng (thiềm ngữ) cũng có hư, có thực. Thực chứng là nhiệt phạm tâm thần, hư chứng là tâm thần sắp thoát; chẩn đoán cần phân biệt rõ ràng mới có thể tránh được sai lầm. Nói chung, nói sảng thực chứng phần lớn hôn loạn cuồng táo, có người gọi cũng không biết. Nói sảng hư chứng thì có trạng thái hôn ám mê mệt, tựa như ngủ mà không phải là ngủ, có người gọi là lập tức tỉnh lại, rồi lại mê ngay không tỉnh. Đó là tình huống chung để triệu chứng hư thực.
Còn trường hợp nói sảng mắt đờ là thuộc cơ chế dương nhiệt đến cực độ; đó là hiện tượng âm tinh suy kiệt, hoả nhiệt dồn lên tinh thần bị quấy nhiễu, cho nên nói sảng. Nhiệt thịnh thương tổn âm, tinh khí ngũ tạng bị tà nhiệt cướp đoạt, không thể đi lên vinh dưỡng mắt, cho nên mắt lờ đờ không động. Xét tình hình bệnh là đã tiến vào giai đoạn tương đối nguy hiểm. Nếu như lại kiêm phát suyễn đầy trướng là biểu hiện âm tinh kiệt tuyệt, dương mất chỗ dựa mà khí thoát lên trên; cho nên tiên lượng tử vong. Nếu thấy kiêm triệu chứng tiêu chảy, là trung khí cũng bại hoại tà khí thực, chính khí hư, lại thêm tiêu chảy thương tổn âm, cho nên cũng là tiên lượng tử vong.
Theo kinh nghiệm của danh y Trình Giao Thiến, trường hợp nói sảng mắt đờ kiêm phát suyễn nhẹ mà thấy có mạch tượng huyền cũng còn có thể cứu trị được về sinh khí còn chưa kiệt tuyệt.
Trường hợp lý chứng, thầy thuốc lầm dùng phương pháp phát hãn, phát sinh biến chứng, điều 218 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh thương hàn 4-5 ngày, mạch tượng trầm thực, phát suyễn, đầy trướng. Mạch tượng trầm là bệnh tại phần lý mà lại dùng phương pháp phát hãn điều trị, làm cho tân dịch trong cơ thể theo mồ hôi vượt ra ngoài. Do đó, đại tiện khó. Biểu hư lý thực, thời gian kéo dài thì phát sinh triệu chứng nói sảng”.
Chứng phát suyễn đầy trướng có khi do nguyên nhân biểu tà liễm bó, có khi do nguyên nhân khí phần lý nghẽn tắc. Nhưng phát suyễn thuộc biểu tà tất có các triệu chứng phát sốt sợ lạnh... thuộc biểu chứng. Phát suyễn thuộc lý thực tất nhiên có các triệu chứng triều nhiệt phân táo... thuộc lý chứng. Đồng thời phát suyễn đầy trướng thuộc biểu chứng thì đầy trướng tất là ở vùng ngực mạch tất là có tượng phù. Phát suyễn, đầy trướng thuộc lý chứng thì đầy trướng ở vùng bụng, mạch tất là có tượng trầm.
Chứng nói trong điều 218, phát suyễn đầy trướng, mạch trầm là thuộc cơ chế lý thực không còn nghi ngờ gì. Nhưng thầy thuốc không xem xét kỹ lại dùng loại phương tễ phát hãn như ma hoàng thang, làm cho tân dịch trong cơ thể vượt ra ngoài dẫn tới chứng lý thực càng nặng. Do đó mà đại tiện khó vì tân dịch vượt ra ngoài, táo thực tính kết ở trong, cho nên phát sinh nói sảng.
Trong điều văn nói “biểu hư lý thực”, là chỉ vào tình hình mồ hôi ra, thời gian kéo dài gây ra táo bón mà phát sinh nói sảng thực tính.
Về kinh nghiệm điều trị, danh y Kha Vận Bá nói nên cho uống chút ít điều vị thừa khí thang (cam thảo chích, mang tiêu, đại hoàng rửa rượu). Danh y Trương Lộ Ngọc, nói nên cho uống tiểu thừa khí thang (đại hoàng rửa rượu, hậu phát chích cạo vỏ, chỉ thực chích mang tiêu).
Hai phương tễ nói trên nên chọn dùng theo thực tế lâm sàng.
Bệnh thiếu âm, thầy thuốc lầm dùng phương pháp phát hãn, phát sinh biến chứng, điều 284 sách Thương hàn luận nói:
“Bệnh thiếu âm, ho, tiêu chảy, lại có triệu chứng nói sảng. Đó là do lầm dùng hoả pháp cướp đoạt tân dịch gây ra. Tiểu tiện tất nhiên khó”.
Bệnh thiếu âm vốn có hàn hoá, nhiệt hoá khác nhau. Các triệu chứng ho mà tiêu chảy cũng có phân biệt theo âm hoá hàn hay theo dương hoá nhiệt khác nhau.
Theo âm hàn hoá, điều trị dùng chân vũ thang (phục linh, thược dược, bạch truật, sinh khương, phụ tử chế). Nếu theo dương nhiệt hoá, điều trị dùng trư linh thang (trư linh cạo vỏ, phục linh, trạch tả, a giao, thạch cao). Đó là đại pháp cơ bản.
Trong điều văn nói “hoả pháp cướp đoạt tân dịch”, dựa vào triệu chứng nói sảng (thiền ngữ) xem xét kỹ, biết rằng do đã dùng hoả pháp (ngải cứu, ôn châm...) tất nhiên âm dịch bị thương tổn. Tâm âm bị thương tổn dẫn tới tâm thần phù việt (vượt trội lên trên), vì vậy xuất hiện triệu chứng nói sảng. Tạng thận làm chủ đại tiện và tiểu tiện. Trường hợp dùng lầm hãn pháp điều trị bệnh thiếu âm (dùng phương pháp điều trị biểu chứng vào điều trị lý chứng), cưỡng bức mồ hôi của thiếu âm phát ra. Tân dịch bị thương tổn, cho nên lại thấy triệu chứng tiểu tiện khó.
Cưỡng bức mồ hôi của thiếu âm phát ra là điều trị lầm. Thiếu âm vốn thuộc hư chứng, lại qua điều trị lầm tức là phạm vào cấm kỵ “hư hư” (làm hư tổn thêm chứng vốn đã hư). Tham khảo điều 211 sách Thương hàn luận nói: phát hãn nhiều, nếu lại tái phát hãn; gây ra vong dương, phát sinh nói sảng. Trường hợp này là nói sảng hư tính. Nói sảng trong điều 284 cũng là thuộc hư tính, do lầm dùng hoả pháp, cướp đoạt tân dịch tạo thành. Tâm khí bị thương tổn phát sinh nói sảng hư tính. Cuối điều văn nói “tân dịch kiệt ở trong, cho nên tiểu tiện khó”, càng làm rõ cơ chế tâm khí thương tổn phát sinh nói sảng, tiểu tiện khó (tâm-tiểu trường có quan hệ biểu lý).
Nguồn: T/c Đông y, số 351,25/7/2003







