Bệnh viêm thận cấp tính ở trẻ em
1. Nguyên nhân sinh bệnh
Trẻ em cơ thể yếu, do cảm mạo, cảm nhiễm các bệnh ở đường hô hấp như: sưng đau họng, viêm họng hạt, viêm răng, lợi v.v... và các bệnh ngoài da như mụn nhọt, lở loét, bệnh sa hầu (tinh hồng nhiệt) rất dễ ảnh hưởng đến tạng thận, xuất hiện các triệu chứng tiểu tiện ít, có khi tiểu tiện không thông, nhức đầu chóng mặt, hai chân phù, mắt phù đó là những triệu chứng ban đầu của bệnh viêm thận cấp tính. Tuần lễ đầu trẻ em có thể không có cảm giác gì khác, nhưng sau đó là xuất hiện các triệu chứng như đau đầu, nước tiểu đỏ, buồn nôn, tim hồi hộp. Nếu kịp thời điều trị chăm sóc chu đáo bệnh khỏ. Nếu không được điều trị kịp thời thì chuyển thành mạn tính.
2. Biện chứng luận trị
Triệu chứng chủ yếu bệnh viêm thận cấp tính của trẻ em là phù thũng, thuộc phạm vi “bệnh thuỷ” khí của đông y. Bệnh thủy khí chia ra dương thuỷ và âm thuỷ, thuỷ thũng do viêm thận cấp tính thuộc loại dương thuỷ.
Nguyên nhân chủ yếu đa số do ngoại tà ảnh hưởng đến nội tạng, khiến thuỷ khí vận hành không bình thường, công năng của ba tạng phế, tỳ, thận vận hành mất điều hoà. Phế chủ khí hợp với bì mao là thượng nguồn của nước. Phế khí mất điều hoà hoặc phế khí hư, thời biểu khí không bền chặt, dễ bị ngoại tà xâm phạm, khiến cho tác dụng thông điều đạo của phế bị ảnh hưởng. Tỳ chủ tứ chi và cơ nhục, lại chủ về vận hoá, khi chức năng vận hoá mất bình thường, làm cho thuỷ thấp ứ đọng. Thận chủ thuỷ, chủ xương cốt, chủ nạp khí, nếu thận khí hư sẽ không đưa được thuỷ dịch xuống bàng quang.
Do phế khí mất điều hoà, tỳ vận hoá không mạnh, không đủ khả năng khống chế thuỷ, biểu khí không bền chặt cho nên dễ bị ngoại tà xâm phạm, phong tà thuỷ khí chống chọi nhau, do thận khí không đủ thuỷ dịch không dẫn xuống được, khiến thuỷ thấp tràn lan mà gây ra thuỷ thũng. Do đó nguyên nhân của thuỷ thũng không chỉ ở một tạng thận mà có quan hệ chặt chẽ với phế và tỳ cho nên khi điều trị cần chú ý đến cả ba tạng.
Sách “Kim quĩ yếu lược” ghi “các loại nước từ lưng trở xuống thường gây thũng, cho nên điều trị cần lợi tiểu, từ lưng trở lên nên phát hãn sẽ khỏi”. Sách “Ấu khoa thiết kính” cho rằng: chữa thuỷ thũng nên điều tỳ hành khí “thực tỳ lợi thuỷ”. Trên thực tế đối với chứng phù của trẻ em viêm thận cấp tính do biểu tà trước hết nên phát hãn, tiểu tiện sẻ đỏ và rít cho nên cần lợi thuỷ. Nếu tiểu tiện lợi mà bụng chướng, đoản hơi, mặt, mắt phù, chân tay lạnh là thuộc chứng hư hàn nên điều hoà doanh vệ trước, sau đó mới hành thấp lợi thuỷ.
Nếu họng sưng đỏ, kèm theo khái thấu, thở gấp hoặc ngoài da ngứa, nổi mẩn thuộc ngoại cảm phong tà, đồng thời nhiệt độc nung nấu ở trong, nên dùng phương pháp giải biểu lợi thuỷ thấp kèm thuốc thanh nhiệt giải độc.
Do thấp nhiệt tích trệ hoá thành hoả, thận không nạp khí, không thể nhiếp huyết nên xuất hiện đái ra máu cho nên phải thanh nhiệt, lương huyết khi bệnh nhân thực chứng, tư thận hoà huyết khi bệnh đã hư chứng.
Vì thuỷ không nuôi dưỡng được mộc, can dương mạnh, về một bên, xuất hiện choáng váng đầu, hoa mắt, phiền táo, buồn nôn v.v... khi điều trị cần tư thận kết hợp nhu can tiềm dương để giải quyết chứng huyễn vựng (cao huyết áp) nếu có.
Trên lâm sàng có khi chứng phù thũng không rõ rệt chỉ có phù ở mi mắt, các chứng trạng khác không điển hình, kèm theo biếng ăn, sắc mặt không tươi, dùng tây y kết hợp xét nghiệm nước tiểu mới biết được viêm thận. Khi điều trị nên dùng phương pháp đạm thấp lợi thấp, cam đạm dưỡng tỳ, thanh nhiệt lương huyết dưỡng âm tư thận mà dùng thuốc.
Đông y cho rằng bệnh viêm thận dạng này “bản ở thận, tiêu ở phế, chế ở tỳ”. Tỳ hư không thể chế thuỷ do đó sinh ra thuỷ thũng, thường thiên về thực chứng nên khi điều trị cần chú ý phát hãn lợi thuỷ, hành khí, hoà huyết, tư thận, nhu can. Nhưng cần phải chú ý đến tỳ vị. Ở giai đoạn đầu chỉ cần phép thanh chưa cần bổ sớm, càng không nên bổ nhiều. Nếu bệnh tình kéo dài thì thanh bổ cùng dùng không nên đơn thuần dùng phép bổ, ở thời kỳ bệnh phục hồi nên điều lý cả tỳ thận.
3. Phương pháp điều trị
a)Triệu chứng: phù thũng mặt, mắt, tứ chi và toàn thân sốt, thân thể mỏi mệt, đau, sợ gió, không có mồ hôi, tiểu tiện ít, mạch phù rêu lưỡi trắng.
- Phép chữa: khu phong lợi thấp.
- Bài thuốc: dùng bài việt tỳ thang gia giảm
Chích ma hoàng Phục linh bì Thương truật Chích thảo | 8g 12g 8g 4g | Tô tử Trạch tả Phòng kỷ Sinh khương | 8g 12g 8g 8g |
Tuỳ theo triệu chứng lâm sàng có thể gia giảm.
Ngày uống 1 thang sắc 3 lần, uống 3 lần trong ngày.
b)Nếu bệnh nhân phù toàn thân, khát nước, tiểu tiện ngắn đỏ, ho, mạch phù sác, chất lưỡi đỏ rêu lưỡi vàng đó là biểu tà kiêm nhiệt nặng.
- Phép chữa: khư phong thanh lợi
- Bài thuốc: thường dùng bài mai liên thang gia vị
Chích ma hoàng Xích tiểu đậu Tri mẫu Hạnh nhân Hoạt thạch | 8g 12g 8g 12g 12g | Liên kiều Sinh thạch cao Hoàng bá Chích thảo | 12g 16g 8g 4g |
c)Nếu bệnh nhân thuộc thể thấp thì phù toàn thân, nhưng hai chân phù nặng hơn, tiểu tiện ít ngắn, không khát nước, mạch trầm hoạt, rêu lưỡi trắng nhớt.
- Phép chữa: thanh lợi hành thuỷ
- Thường dùng bài: linh bì thang gia vị
Phục linh bì Trạch tả Quế chi Tang bạch bì Đại phúc bì | 12g 12g 8g 12g 12g | Trư linh Bạch truật Trần bì Sinh khương bì | 12g 12g 8g 8g |
Những bài thuốc trên chủ yếu là khu tán phong hàn, giải biểu hành thuỷ. Chủ yếu do biểu khí không bền chặt, phong tà xâm phạm vào cơ thể mà gây ra bệnh. Bài thuốc thứ nhất có vị ma hoàng có tác dụng phát hãn lợi thuỷ, phòng kỷ, phục linh để điều trị chứng bì thuỷ.
Bài ma liên thang chủ yếu điều trị chứng ứ nhiệt ở lý. Hai vị liên kiều và hoáng bá tính khổ hàn để thanh hoả, xích tiểu đậu để lợi thuỷ đạo thấp, hạnh nhân để lợi phế khí.
Bài linh bì để điều trị biểu chứng. Nhưng bên trong có chứng xúc thuỷ, chủ yếu là lợi thuỷ hoá thấp.
- Nếu bệnh nhân nội nhiệt nặng thì dùng bài “tiểu kế ẩm” gia giảm để thanh nhiệt lương huyết:
Sinh địa Trạch tả Bồ hoàng Bạch mao căn Trắc bá diệp | 12g 8g 12g 12g 12g | Phục linh Tiểu kế Ngưu tất Thạch vi Chích thảo | 12g 12g 8g 8g 4g |
- Nếu nhiệt nặng có thể gia chi tử để tiết hoả, thấp nặng gia hoạt thạch, thông thảo để lợi thấp;
- Nếu bệnh nhân âm hư dương cang thì có thể dùng bài “ kỷ cúc địa hoàng” gia vị để ta thận nhu can.
Sinh địa Hoài sơn Trạch tả Câu kỷ tử Đan Bì Cúc hoa | 12g 12g 8g 12g 8g 12g | Thạch quyết minh Hạ khô thảo Sơn thù nhục Phục linh Ngưu tất | 12g 12g 8g 12g 6g |
- Nếu trong nước tiểu có nhiều hồng cầu và dưỡng chấp thì gia: Hạn liên thảo, tiên hạc thảo, nữ trinh bì, tang phiêu tiêu mỗi vị 12g.
- Nếu tỳ không vận hoá được dẫn đến kém ăn, đoản hơi, tiểu tiện ít, đại tiện khi táo khi loãng. Bụng dưới và hai chi dưới phù, mạch trầm huyền mà hoãn, lưỡi rêu trắng, nhớt hơi vàng có thể dùng bài “thực tỳ ẩm” gia vị để lý tỳ lợi thấp.
Bạch truật Bạch linh Chỉ xác Hậu phác Trạch tả | 12g 12g 8g 8g 12g | Chính thảo Mộc qua Đại phúc bì Ngưu tất | 4g 12g 8g 8g |
- Nếu mệt mỏi, đái có dưỡng chấp (albumin) thì gia đảng sâm, hoài sơn, ý dĩ sống, hoàng kỳ, hạn liên thảo mỗi vị 12g.
- Nếu tì thận đều hư, tứ chi rã rời, ăn kém tiểu tiện ít thông lợi, lưng đau, phù thũng tái phát nhiều lần, mạch trầm hoãn, chất lưỡi nhạt có thể dùng bài “ thận khí hoàn chân vũ thang” gia vị để bồi bổ thận phù tỳ.
Chích thảo Hắc phụ tử Bạch thược Nhục quế Thỏ ty tử Bổ cốt chỉ | 8g 8g 12g 6g 12g 12g | Tang ký sinh Thục địa Bạch linh Sơn thù nhục Hoài sơn | 12g 12g (tẩm rượu) 12g 8g 12g |
Thời kỳ bệnh hồi phục không nên bỏ thuốc ngay mà nên chuyển sang điều trị thuốc viên một thời gian có thể dùng lục vị hoàn hoặc khải tỳ hoàn để điều trị.








