Bệnh viêm phổi của trẻ em
I. Nguyên nhân bệnh:
Đông y cho rằng: trẻ em viêm phổi là do ngoại cảm phong tà gây nên, trong phạm vi của bệnh ôn nhiệt. Ôn tà đầu tiên phạm phế, thời tiết mùa xuân bất thường nóng lạnh đến đột ngột. Trước bị ôn tà xâm nhập nhưng sau đó bị hàn vít chặt, cho nên phần nhiều gây ra sốt cao ho đờm suyễn.
II. Cơ chế gây bệnh:
Phế là một tạng non yếu, trông coi sự mở đóng của bì mao, chủ về khí hoá toàn thân, thông điều thuỷ phần toàn thân, thông suốt bàng quang, tính chất của nó giáng xuống là thuận, đi lên là nghịch. Khi phong tà phạm phế, làm cho phế khí nghịch lên mà phát sinh các chứng khái thấu, thở suyễn, phế khí nghịch lên khiến sự vận hoá thủy dịch không mạnh, thuỷ khí ngăn trở, đọng lại mà sinh đờm, đờm theo khí nghịch lên, khiến sự vận hoá thủy dịch không mạnh, thủy khí ngăn trở, đọng lại mà sinh đờm, đờm theo khí nghịch lên. Ho suyễn đờm nhiều dẫn đến khí trệ và huyết trệ, phế khí nghẽn tắc, thời huyết trệ mà không dễ lưu thông, do đó xuất hiện mắt trắng xanh, quá làm thì xẩy ra hiện tượng khí huyết ứ trệ dẫn đến hôi miệng, móng tay, chân đều xanh tím, phế khai khiếu ở mũi, nếu phế bị nhiệt tà nung nấu thời khiếu của phế không thông, tân dịch bị tổn thương cho nên trẻ khóc không có nước mắt, nặng hơn thì hai cánh mũi phập phồng.
Phong tà phạm phế phải phân biệt được phong nhiệt và phong hàn. Nếu bệnh thuộc phong hàn thường thấy chứng sợ lạnh, phát sốt, đau đầu, không có mồ hôi, miệng không khát, rêu lưỡi trắng nhợt. Nếu thuộc chứng phong nhiệt thường sợ gió, phát sốt, có mồ hôi, có mồ hôi, khát nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng. Bệnh chủ yếu thuộc về ôn nhiệt các triệu chứng: như sợ gió, phát sốt, có mồ hôi, khát nước, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng mỏng hoặc vàng mỏng. Bệnh chủ yếu thuộc về ôn nhiệt. Nếu có ngoại cảm phong hàn chỉ là nguyên nhân khách quan. Nhân tố chính bên trong là do ôn nhiệt. Nếu có ngoại cảm phong hàn chỉ là nguyên nhân khách quan. Nhân tố chính bên trong là do ôn nhiệt, có nghĩa là trước cảm phong nhiệt sau đó là hàn tà vít lại. Nhiệt chứng đa phần, nên trong chẩn đoán vẫn thuộc chứng nhiệt.
Bệnh ôn nhiệt thường dễ chuyển biến, các tạng phủ có ảnh hưởng lẫn nhau, do đó khi phế khí bị bệnh thường ảnh hưởng đến các tạng phủ khác. Khi sốt cao dai dẳng lâu ngày không khỏi, bệnh thường xâm phạm đến tâm bào nên bệnh nhân thường hay nói sảng, tinh thần hôn mê. Nếu ảnh hưởng đến tạng can sẽ dẫn đến can phong, xuất hiện chứng kinh giật. Nếu ảnh hưởng tới tỳ, hoặc bệnh nhân vốn tỳ vị yếu sẽ xuất hiện chứng bụng đầy chướng, đại tiện lỏng.
Nếu tình thế bệnh không được khống chế kịp thời sẽ dẫn đến chứng chính hư, từ thực, xuất hiện các chứng hậu nguy cấp, như tâm dương suy kiệt bên trong bế tắc, thoát ra bên ngoài, ta thường gọi (nội bế ngoại thoát). Khi trẻ em thể chất yếu do bẩm sinh dễ chuyển thành viêm phổi. Ngoài ra khi mắc các chứng ho gà, lên sởi chưa khỏi, khi bị biến chứng cũng dẫn đến viêm phổi. Các chứng trên thường bệnh tình kéo dài, bệnh nặng nên cần chú ý thận trọng trong quá trình điều trị.
III. Biện chứng luận trị:
Bệnh viêm phổi ở trẻ em chủ yếu do ôn tà phạm phế, do phế khí không tuyên thông mà dẫn đến sốt cao, ho, đờm nhiều, suyễn khò khè, thở gấp. Sách Y tôn kim giám ấu khoa gọi là “phong hàn suyễn cấp”, “hỏa nhiệt suyễn cấp”. Sau này Đông y thường gọi là “phế phong hàn suyễn”, “phế bế suyễn khai”. Đều nói bệnh này của trẻ em chủ yếu là bệnh ở phế nên thường sốt cao, đờm nhiều, ho suyễn. Trong điều trị chủ yếu dùng các phương pháp tuyên phế, khứ đờm, thanh nhiệt, giải độc định suyễn, chỉ ho.
Phong hàn, phong nhiệt khi xâm phạm phế đều làm cho phế bế tắc, không tuyên thông. Khi phế khí bế tắc uất lại sinh ra đờm. Đờm ngăn trở các đường “lạc” của phế làm phế trướng mà thở gấp. Tuyên phế, khứ đờm cũng là giải biểu. Trừ đờm nghẽn, mở sự vít lấp, thanh nhiệt, giáng nghịch khiến phế khí thư sướng điều đạt.
Phế viêm là một loại nhiệt chứng, nên dù có hàn tà ở bên ngoài nhưng vẫn có nhiệt tà nung nấu ở bên trong cho nên thường gặp chứng “hàn bao nhiệt uất”. Nếu đơn thuần giải biểu thường ra mồ hôi nhưng nhiệt không lui. Đồng thời tuyên không phế khí phải thanh phế nhiệt, giải ôn độc. Khi dùng bài thuốc cần chú ý các vị tân lương hơn là các vị tân ôn, để tránh sự hóa nhiệt, hoá hoả, không dùng quá phương pháp phát tán để tổn thương tân dịch.
Phế viêm ho suyễn chủ yếu là do nhiệt tà ôn độc. Độc thịnh thời nhiệt mạnh, nhiệt mạnh thường tổn thương âm. Nó không giống như chứng hàn suyễn khi điều trị cần dùng thuốc thanh lương, không dùng thuốc cay nóng và thu liễm, mới có thể giáng hoả, dưỡng âm, bảo tồn tân dịch.
Đối với các loại biến chứng như hoả nhiệt vít lấp phế, phát nhiệt kéo dài không lui, nên chú trọng tiết nhiệt. Nếu xuất hiện hôn mê, co giật nên chú ý trừ phong, khai khiếu. Nếu xuất hiện khí âm đều hư thì nên dưỡng âm tiềm dương.
Trẻ em viêm phổi thường có triệu chứng trên thịnh dưới hư như sốt cao, thở hổn hển, cánh mũi phập phồng là do nhiệt không giải được, lại xuất hiện tứ chi lạnh, tiểu tiện trong dài, đại tiện lỏng bụng trướng. Khi điều trị cần chú ý khia bế tiết nhiệt, dưỡng âm cứu nghịch, đối với chứng tâm dương suy kiệt nên hồi dương cứu nghịch.
IV. Phương pháp điều trị
1. Khi bệnh nhân có các triệu chứng : sốt cao, ho có đờm, phiền táo không yên, mặt đỏ môi hồng, không có mồ hôi hoặc mồ hôi ít, rêu lưỡi trăng mỏng, mạch phù sác. Bệnh đang thời kỳ nhẹ.
- Phép điều trị : Tân lương giải biểu thanh nhiệt khai phế.
- Bài thuốc thường dùng:
Ma hoàng chích Sinh thạch cao Kim ngân hoa Bản lam căn Đạm trúc diệp | 4g 16g 8g 12g 8g | Hạnh nhân Hoàng cầm Liên kiều Cam thảo | 8g 8g 8g 4g |
Nếu bệnh nhân đổ nhiều mồ hôi gia bạc hà 4g, tang diệp 8g, bỏ ma hoàng.
+ Nếu ho nhiều gia: tiền hồ, tỳ bà diệp mỗi vị 8g
+ Nếu sốt cao: gia tri mẫu, chi tử mỗi thứ 8g.
2. Khi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng:
Sốt cao ra nhiều mồ hôi, miệng khô phiền táo không yên, đờm khò khè thở gấp, hổn hển có hiện tượng suyễn. Mặt trắng xanh, môi đỏ, rêu lưỡi vàng, lưỡi khô, mạch phù sác.
- Phép điều trị : tân lương tiết nhiệt, khứ đờm định suyễn
- Bài thuốc thường dùng:
Ma hoàng chích Hạnh nhân Sinh thạch cao Bản lam căn Chi tử | 8g 12g 24g 12g 12g | Hoàng cầm Liên kiều Tri mẫu Ngư tinh thảo Cam thảo | 12g 12g 12g 12g 4g |
+ Nếu đờm suyễn nhiều: gia tô tử, đình lịch tử đều 8g
+ Nếu miệng khát thích uống nước gia: thiên hoa phấn, ngọc trúc mỗi thứ 12g
Đại tiện táo bón, bụng đầy chướng gia: thục đại hoàng, chỉ thực mỗi thứ 8g.
3. Khi bệnh nhân có triệu chứng lâm sàng: Sốt cao dai dẳng, đờm dãi khò khè, hơn thở ngắn, hổn hển có tiếng suyễn, sắc mặt xanh tím, tinh thần mỏi mệt li bì, tay chân lạnh, bụng chướng, ngực nhô cao, tiểu tiện không cầm được, lưỡi đỏ khô ráo không có tân dịch, rêu lưỡi đen, mạch tán dại.
- Phương pháp điều trị: phù chính, cứu nghịch dưỡng âm khai phế.
- Bài thuốc thường dùng:
Sinh mạch tán gia vi
Sinh địa Đảng sâm Ngũ vị tử Thạch xương bồ Liên kiều | 12g 12g 8g 8g 12g | Mạch môn Huyền sâm Liên tâm Thiên trúc hoàng Camthảo chích | 12g 12g 8g 8g 4g |
4. Khi bệnh nhân viêm phổi nặng : sốt cao dai dẳng, hôn mê co giật biểu hiện hư thoát. Sốt cao kéo dài, hoặc lúc sốt lúc không, miệng khô khát nước, phiền táo không yên. Lưỡi đỏ rêu vàng, mạch hồng hoạt sác.
- Phương pháp điều trị : phải thanh phế tả nhiệt.
- Bài thuốc thường dùng
Tam hoàng thạch cao thang gia vị
Hoàng cầm Hoàng bá Hoàng liên Bản lam căn Tri mẫu | 8g 8g 4g 12g 8g | Sinh thạch cao Xích thược Đại thanh diệp Tử hoa địa đinh Camthảo | 16g 8g 12g 12g 4g |
5. Khi bệnh nhân có triệu chứng
Do nhiệt vít lấp thanh khiếu, tinh thần không minh mẫn, nói sảng, hôn mê, cuồng táo không yên, rêu lưỡi vàng nhợt, mạch hồng sác.
- Phương pháp điều trị : khai khiếu hoá trọc
- Bài thuốc thường dùng:
Thanh phế ẩm gia vị
Sinh địa Uất kim Chi tử Thạch xương bồ Hoàng cầm Sinh thạch cao | 12g 8g 8g 8g 8g 20g | Tri mẫu Mạch môn Hoàng liên Bạc hà Camthảo | 8g 12g 8g 8g 4g |
6. Nếu bệnh nhân do can phong nội động , co giật, cổ cứng hai mắt trợn ngược. Nặng hơn thì có triệu chứng uốn ván, hàm răng nghiến chặt, rêu lưỡi vàng hoặc trắng, mạch huyền sác.
- Phương pháp điều trị : tức phong trấn kinh
- Bài thuốc thường dùng:
Bài câu đằng ẩm gia giảm
Câu đằng Bán hạ Địa hoàng Bạch thược Camthảo Thủ ngưu giác | 8g 4g 12g 12g 4g 8g (đun trước) | Thiên ma Bạch cương tàm Liên kiều Can địa long Sinh tang chi | 8g 12g 12g 8g 16g |
7. Nếu bệnh nhân tâm dương suy kiệt , có các triệu chứng trên thịnh, dưới suy, sốt cao, tứ chi giá lạnh, suyễn ra nhiều mồ hôi, đầu lưỡi đỏ không có tân dịch, mạch hư đại.
- Phương pháp điều trị : hồi dương cứu nghịch
- Bài thuốc thường dùng:
Sâm phụ thang gia giảm
Nhân sâm Ngũ vị tử Phụ tử chế | 12g 8g 8g | Sinh mẫu lệ Sinh long cốt | 12g 12g |
Sắc đặc, chia nhiều lần uống trong ngày.
8. Nếu bệnh nhân khí âm hều hư , tinh thần li bì, sắc mặt xanh xám, tứ chi giá lạnh, gò má đỏ. Thở gấp cánh mũi phập phồng, đổ mồ hôi, người lạnh đầu lưỡi đỏ ít tân dịch, mạch tế sác.
- Phương pháp điều trị : dục âm tiềm dương.
- Bài thuốc thường dùng:
Phục nguyên thang gia giảm
Nhân sâm Thục địa Hắc phụ tử chế Sinh quy bản Sinh long cốt | 8g 12g 8g 12g 12g | Sinh mẫu lệ Sinh miết giáp Tri mẫu Bạch thược Chích cam thảo | 12g 12g 8g 8g 8g |
9. Trẻ em viêm phổi cần chú ý:
Trẻ em viêm phổi phát bệnh nhanh, tiến triển cũng nhanh, cần chú ý đến việc chăm sóc và điều trị.
Nếu trường hợp nhẹ trong thời kỳ bệnh hồi phục nhưng cơ thể còn yếu, còn sốt nhẹ, ho nhiều, ăn kém cơ thể gầy mòn, lưỡi nhạt ít rêu, mạch bế sác.
- Phương pháp điều trị : tư âm ích khí, thanh phế hoà vị.
- Bài thuốc thường dùng:
Thanh hoà thang gia giảm
Hoàng cầm Sa sâm Thạch cao Sinh đạo nha Chích thảo | 8g 12g 12g 12g 4g | Mạch môn Tri mẫu Địa cốt bì Tỳ bà diệp | 8g 8g 12g 12g |
Đối với bệnh viêm phổi trẻ em nếu diễn biến xấu, nguy kịch, thì phải cấp cứu trước, có thể phối hợp Đông Tây y dể điều trị. Hoặc điều trị Tây y qua giai đoạn cấp cứu sau đó dùng Đông y.
Nguồn: T/c Đông y, số372,25/4/2005







