Bệnh thương hàn đã giải, còn buồn nôn
Về trường hợp thứ nhất, điều 396 sách Thương hàn luậnnói:
“Sau khi trọng bệnh khỏi, luôn luôn nhổ nước bọt, liên miên lâu ngày không dứt”.
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra triệu chứng hay nhổ nước bọt; như trong thiên Quyết âm sách Thương hàn luận, bàn về Ngô thù du thang chứng nói đến triệu chứng nhổ nước bọt là thuộc cơ chế trong vị hư hàn. Điều trị dùng Lý trung hoàn để hoãn ôn tỳ vị sau khi đại bệnh mới khỏi (Điều 396). Các nhà nghiên cứu hiện nay nói là trường hợp này có kiêm chứng viêm dạ dày mạn tính, làm tăng chức năng phân tiết tân dịch gây ra. Điều 378 sách Thương hàn luận nói: “Thấy có triệu chứng nôn khan, thổ ra bọt rãi, mà lại kiêm chứng đau đầu; chủ yếu dùng ngô thù du thang điều trị”. Cơ chế bệnh của trường hợp này là do hàn khí làm thương tổn quyết âm, khí trọc âm hạ tiêu thừa cơ dồn lên xâm phạm khí thanh dương, trong ngực, gây ra nôn khan, thổ bọt rãi, đau đầu. Đau đầu thường ở vị trí đỉnh đầu, do kinh mạch quyết âm hội hợp với mạch đốc ở đỉnh đầu. Hai kinh thái âm, thiếu âm đều không có đầu thống, chỉ kinh quyết âm có triệu chứng này là do nguyên nhân đó.
Về trường hợp thứ hai, điều 397 sách Thương hàn luậnnói:
“Bệnh thương hàn, tà đã giải, thân thể người bệnh gầy còm, hư nhược, thổ dồn, xung khí nghịch lên gây ra buồn nôn. Điều trị chủ yếu dùng trúc diệp thạch cao thang”.
Bệnh thương hàn chẳng những làm tổn thương dương khí người bệnh, mà còn hay làm tiêu hao âm dịch. Trong điều 397, bệnh tà tuy đã giải trừ, nhưng nguyên khí tân dịch đã suy kiệt nặng. Tân dịch tổn thương không tư dưỡng được hình hài, cho nên thân thể gầy còm, nguyên khí bất túc kiêm có hư nhiệt, cho nên dẫn tới thiểu khí thở dồn, khí nghịch lên buồn nôn. Trúc diệp thạch cao thang có công dụng sinh tân, ích khí, thanh nhiệt, dưỡng âm, cho nên là chủ phương điều trị chứng này.
Trong điều văn, triệu chứng mạch tượng có phần giản lược. Dùng phương pháp “Dĩ dược trắc chứng” (lấy dược phương xét đoán chứng bệnh), ta có thể suy đoán ra các mạch tượng và triệu chứng như sau:
Chất lưỡi đỏ thẫm, bệu, không có rêu lưỡi. Mạch tượng hư sác, bứt dứt, khát nước thuộc hư nhiệt.
Trúc diệp thạch cao thang.
Trúc diệp, thạch cao, bán hạ (rửa), mạch môn đông (bỏ tim), nhân sâm, cam thảo chích, ngạnh mễ.
Phương này là từ bạch hổ gia nhân sâm thang gia giảm mà thành.
Trúc diệp, thạch cao trừ bứt rứt, thanh nhiệt. Nhân sâm, cam thảo ích khí, sinh tân. Mạch đông, ngạnh mễ tư dưỡng vị dịch. Bán hạ tân tán, điều lý tính trệ của dược. Có công dụng hoà trung giáng nghịch, lương bổ hư nhiệt. Khử tri mẫu của nguyên phương (vì tri mẫu khổ hàn) để dưỡng dục âm khí. Âm khí của phế vị được tư dưỡng, tất là âm khí sẽ phục hồi.
*
* *
Trọng bệnh mới khỏi, nếu lao lực sớm, nhất là lao lực quá độ, dễ phát sinh chứng bệnh mà sách Thương hàn luậngọi là “Lao phục”. Lao phục có nghĩa là bệnh nặng mới khỏi do lao lực mà bệnh tái phát. Điều 393 sách Thương hàn luậnnói:
“Đại bệnh mới khỏi, do nguyên nhân lao lực quá độ mà tái phát, chủ yếu có thể dùng chỉ thực chi tử thang điều trị”.
Bệnh nặng, nhất là trúng phong thương hàn thuộc bệnh ngoại cảm nhiệt tính, mà bệnh mới khỏi chưa lâu, khi chính khí còn chưa hoàn toàn hồi phục, nếu như không tĩnh dưỡng tốt mà vội vàng lao lực quá sớm, như đi xa, đứng lâu, ngồi lâu hoặc ăn uống không tiết độ đều có thể dẫn tới bệnh cũ tái phát. Đó là sự thất thường gặp trên lâm sàng. Dựa theo phương pháp “Dĩ dược trắc chứng” từ phương thang chỉ thực chi tử, có thể suy đoán bệnh lao phục có các triệu chứng hư nhiệt, bứt rứt, bực dọc, phiền muộn, hoặc bụng trướng v.v…
Theo các nhà nghiên cứu đời sau, đại bệnh mới khỏi, chân nguyên đại hư, khí huyết chưa hồi phục, tinh thần mệt mỏi, dư nhiệt chưa hết; chỉ nên an dưỡng, tránh phong hàn, điều tiết ăn uống, thanh tịnh không ham muốn thì nguyên khí sẽ dần lớn mạnh. Nếu không biết điều dưỡng phạm vào điều cấm kỵ, sẽ phát sinh các chứng nguy kịch: lao phục, như nói nhiều, tức bức nhiều, oán hận nhiều, bi ai nhiều, thì thần (tinh thần) bị lao thương; như chải đầu, tắm rửa, ngồi, đi nhiều thì lực (sinh lực) bị lao thương, đều có thể khiến người tái phát sốt.
Sốt của lao phục là thuộc cơ chế hư nhiệt, từ trong phát ra. Tuy cũng theo mồ hôi mà giải trừ, nhưng khác với tà khí ngoại cảm, không dùng phương pháp tân ôn phát hãn, mà chủ yếu dùng chỉ thực chi tử xị thang điều trị.
Duy có nữ lao đản, tuy cũng là một chứng trong bệnh lao phục nhưng thấy hiện ra các triệu chứng nguy hiểm. Phương pháp điều trị khác hẳn. Phần lớn tiên lượng xấu, khó cứu. Trọng Cảnh trị dư tà sau khi bệnh nặng mới khỏi, dụng dược nặng nhẹ, ôn lương, hoàn toàn dựa vào triệu chứng mạch tượng, vào cơ chế bệnh mà quyết định; dùng đại hoàng, thạch cao, hay nhân sâ, chỉ thực đều dựa vào tình hình bệnh mà biện chứng luận trị. Không máy móc, thấy bệnh thế mới lui, không xét hư thực, hàn nhiệt, vội vã dùng thuốc ôn bổ, không chú ý đến dư nhiệt, dễ gây ra biến chứng.
Trong loại bệnh lao phục, điều 394 sách Thương hàn luậnnói:
“Bệnh thương hàn mới khỏi chưa lâu, đột nhiên lại phát sốt. Có thể dùng tiểu sài hồ thang điều trị. Nếu như mạch tượng phù có thể dùng phương pháp giải biểu phát hãn điều trị. Nếu mạch tượng trầm thực có lực, nên dùng phương công lý, tả hạ điều trị”.
Phát hãn hoặc công tả đều không nên quá mạnh. Điều 395 sách Thương hàn luậnnói:
“Trọng bệnh mới khỏi, từ thắt lưng trở xuống phát sinh thuỷ thũng; có thể dùng mẫu lệ trạch tả tán điều trị”. Đại pháp điều trị chứng thuỷ thũng của đông y là: Thuỷ từ thắt lưng trở xuống nên lợi tiểu tiện. Thuỷ thũng từ thắt lưng lên trên, nên phát hãn. (Sách Kim quỹ yếu lược).
Bệnh mới giải trừ, không nên cưỡng ép, cố ăn. Điều 398 sách Thương hàn luậnnói:
“Mạch tượng người bệnh đã bình hoà (bệnh đã giải) mà đến lúc mặt trời sắp lặn lại thấy bứt rứt, bực dọc nhẹ, là do bệnh mới khỏi, miễn cưỡng ăn cố; vì tỳ vị còn rất hư nhược, tiêu hoá chướng ngại, cho nên gây ra bứt rứt, bực dọc nhẹ. Chỉ cần giảm ăn uống, sẽ khỏi”.
Tỳ vị hư nhược, ăn cố, không tiêu; bứt rứt, bực dọc nhẹ. Không cần dùng dược điều trị. Chỉ cần giảm ăn, hoặc ăn cháo là bệnh rút.
Chỉ thực chi tử thang.
Chỉ thực chích, chi tử, đậu xị.
Chỉ thực khoan, trung tiêu. Chi tử tiết nhiệt. Đậu xị lương giải biểu tà.
Mẫu lệ trạch tả tán
Mẫu lệ (nung), trạch tả, thục tất (rửa), đình lịch tử (sao), thương lục căn (sao), hải tảo (rửa), qua lâu căn.
Mẫu lệ, trạch tả lợi thuỷ, tả bàng quang hoả. Qua lâu căn hành tân dịch, thục tất trục thuỷ. Đình lịch từ trừ thuỷ khí. Thương lục hành thuỷ. Hải tảo nhuận hạ, thông tiểu tiện.








