Bệnh động mạch ngoại vi
Chứng đau cách hồi & yếu tố nguy cơ
Người bị đau cách hồi có triệu chứng ở chân khi gắng sức: đau bắp chân, cảm giác căng cứng, có thể bị co rút cơ (vọp bẻ) hay cảm giác yếu ở chân bị bệnh. Khoảng cách đi bộ cũng như tốc độ đi để có thể gây đau khác nhau ở mỗi bệnh nhân nhưng chỗ giống nhau là nếu dừng lại hoặc đi thật chậm thì triệu chứng sẽ giảm. Tuỳ mạch máu bị hẹp ở đây mà nhóm cơ được chi phối sẽ có triệu chứng. Nếu cơ bị ảnh hưởng là mông, đùi.. thì có thể động mạch chủ bị bệnh. Ngoài triệu chứng đau cách hồi khi đi thì cũng có thể gặp triệu chứng loét chi do thiếu máu hoặc đau cả lúc nghỉ ngơi.
Phần lớn người bệnh cho rằng sự giảm khả năng đi bộ là một dấu hiệu của tuổi tác nên họ không quan tâm để đi khám bệnh; theo một nghiên cứu. 80% có biểu hiện đau cách hồi rõ rệt nhưng không khai với bác sĩ khi đến khám (tất nhiên là khám bệnh khác). Đây là một bệnh toàn thân (xơ vữa động mạch xảy ra ở tất cả các động mạch) nên có thể bệnh nhân có những triệu chứng của bệnh mạch vành hoặc bệnh mạch máu não (tai biến mạch máu não hoặc cơn thiếu máu não).
Hiện nay, với những triệu chứng lâm sàng của bệnh, nếu nghi ngờ sẽ cho bệnh nhân làm một số xét nghiệm chẩn đoán. Việc chẩn đoán tương đối dễ dàng với: siêu âm doppler mạch, chụp điện toán cắt lớp (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp động mạch.
Yếu tố nguy hiểm của bệnh động mạch ngoại biên bao gồm: tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, ít vận động, hút thuốc lá và yếu tố di truyền. Trong các yếu tố này, hút thuốc lá được xem là nguy cơ quan trọng nhất, lớn nhất. Dù cơ chế gây xơ vữa động mạch của hút thuốc lá chưa biết rõ ràng lắm nhưng thống kê cho thấy có liên quan chặt chẽ với số lượng thuốc lá tiêu thụ. Ngừng thuốc lá là bắt buộc trong điều trị bệnh nhân bị chứng đau cách hồi hay bệnh động mạch ngoại biên.
Bệnh động mạch ngoại vi không phải hiếm gặp
Tần suất bệnh động mạch ngoại vi thay đổi và phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố nhân chủng cũng như phương pháp đánh giá, chẩn đoán. Đây là bệnh hay gặp ở các nước phát triển, có đến 10% dân số trên 65 tuổi ở Hoa Kỳ bị xơ vữa động mạch và có đến 2% dân số từ 40 – 60 tuổi, 6% dân số trên 70 tuổi có triệu chứng đau cách hồi.
![]() |
| Tích tụ mỡ ở thành mạch máu |
Xơ vữa động mạch là yếu tố nguy cơ lớn nhất của bệnh động mạch ngoại biên, chúng gây ra viêm mạch máu, huyết khối mạch do viêm, tăng sinh mô sợi thành mạch. Các mảng xơ vữa thường phát triển ở những nơi chia đôi của mạch máu, điều này sẽ gây cản trở lưu lượng máu lên nội mô thành mạch. Các mảng xơ vữa phát triển gây hẹp và có thể bị bong tróc ra di chuyển trong dòng máu rồi gây tắc nơi khác.
Đối với người bị hẹp động mạch ngoại vi thì lưu lượng dòng máu lúc nghỉ tương tự như ở người khoẻ mạnh. Khi cố gắng sức thì vận tốc tưới máu không thể đạt được tối đa vì mạch máu bị hẹp nên gây ra thiếu máu, nhu cầu chuyển hoá của mô vượt khả năng cung cấp máu sẽ gây ra triệu chứng đau cách hồi. Khi hết gắng sức thì mất một khoảng thời gian dài để phục hồi lại các triệu chứng và nói chung thì càng lúc triệu chứng bệnh càng trầm trọng hơn.
Điều trị bệnh chỉ nhằm làm chậm tiến triển
Cho đến hiện nay, việc điều trị nội khoa hoàn toàn không chữa dứt được bệnh mà chỉ làm chậm tiến triển của bệnh. Phẫu thuật chỉ áp dụng ở các trường hợp nặng khi có nguy cơ hoại tử, loét không lành, đau cả khi nghỉ… người ta sẽ tiến hành nong chỗ hẹp, đặt giá đỡ ở nơi hẹp hoặc phẫu thuật bóc tách mảng xơ vữa, làm cầu nối qua chỗ động mạch tắc. Nói chung, nguyên nhân gốc là vấn đề xơ vữa động mạch toàn thân nên bệnh sẽ tái phát dù có phẫu thuật.
Muốn điều trị có hiệu quả phải khống chế được các yếu tố nguy cơ: ngưng ngay thuốc lá, kiểm soát tốt bệnh lý đái tháo đường (kiểm soát tốt đường huyết), điều trị rối loạn mỡ máu, kiểm soát tốt huyết áp. Dùng thuốc kháng đông lâu dài để phòng ngừa huyết khối gây tắc mạch, thuốc giảm đau, thuốc giãn động mạch đẻ cải thiện triệu chứng đau cách hồi…
Không phải khi vận động, đi lại bị đau mà người bệnh lại không vận động. Ngược lại, bệnh nhân cần phải luyện tập vận động theo hướng dẫn để điều trị chứng đau cách hồi, tránh lối sống tĩnh lại, có chương trình đi bộ đều đặn sẽ cải thiện đáng kể (khuyến cáo đi bộ mỗi ngày từ 40 – 60 phút, đi đến khi đau xuất hiện thì nghỉ ngơi rồi lại tiếp tục bài tập).
Bệnh nhân cần phải được tái khám định kỳ mỗi 3 tháng để đánh giá kết quả điều trị, luyện tập cũng như kiểm soát các yếu tố nguy cơ. Khi có triệu chứng nặng phải đi khám ngay để có thể can thiệp kịp thời. Nếu theo dõi kỹ càng để điều trị có hiệu quả thì biến chứng phải cắt cụt chi sẽ được hạn chế ở mức tối đa. Cắt cụt chi được xem là biến chứng tồi tệ nhất của bệnh và là lý do gây tàn phế cho người bệnh.









