Bế kinh và y học cổ truyền
Đáp: Bệnh do khí huyết hưtổn hoặc đàm thấp, huyết ứ bế tắc, kinh mạch không thông gây nên.
Thể khí huyết hưnhược: Kinh nguyệt ít, nhạt, chóng mặt hoa mắt, mệt mỏi, ăn kém, hồi hộp, mặt vàng tối hoặc trắng bệch. Bạn có thể sử dụng bài thuốc sau:
Bạch phục linh 12g; Đương quy 12g; Nhục quế 6g; Hoàng kỳ 12g; Thục địa 12g; Bạch truật 12g; Nhân sâm 12g; Trần bì 12g; Cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.
Thể khí trệ huyết ứ: Bụng dưới đau, cự án, tình chí uất, sắc mặt tối, ngực sườn đau, lưỡi tím hoặc có điểm ứ huyết. Bạn nên dùng bài thuốc sau:
Cam thảo 4g; Cát cánh 6g; Chỉ xác 8g; Đào nhân 6g; Đương quy 12g; Hồng hoa 6g; Ngưu tất 12g Sinh địa 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.
Thể đàm thấp ứ trệ kinh lạc: bế kinh, mệt mỏi, lợm giọng, chóng mặt hoa mắt, ngực bụng đầy ăn kém. Bạn nên dùng bài thuốc sau:
Bán hạ (chế) 8g; Chỉ thực 12g; Phục linh 12g; Cam thảo 4g; Nam tinh (chế) 6g; Trần bì 12g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần.
Ngoài ra, bạn có thể đến phòng khám Đông y 153 phố Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội để khám hoặc xin tưvấn theo số ĐT: (04) 8470541.
Nguồn: KH&ĐS Số 58 Thứ Sáu 21/7/2006








