Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của chúng ta
Tính đến cuối tháng 12 – 2008, cả nước đã có 219 khu công nghiệp được thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên là 61.472 ha, phân bổ trên 54 tỉnh, thành phố. các khu công nghiệp đã thu hút được 3564 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt 42,667 tỷ usd, trong đó có 2.250 dự án đã đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư đạt khoảng 16,2 tỷ usd. các doanh nghiệp trong nước cũng đã có 2.258 dự án đầu tư đi vào hoạt động với tổng vốn đầu tư đạt 121,1 nghìn tỷ đồng.
Theo qui hoạch từ nay đến năm 2015 sẽ thành lập thêm 91 khu công nghiệp, với tổng diện tích 20.839 ha và mở rộng thêm 22 khu công nghiệp với tổng diện tích 3.543 ha.
Các khu, cụm công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao đã thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội của đất nước ta, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành công nghiệp và công nghiệp phụ trợ, các ngành dịch vụ, tạo công ăn việc làm cho người lao động,thay đổi đời sống và diện mạo của nhiều đô thị và vùng nông thôn, từng bước hình thành các trung tâm đô thị mới, đưa nước ta đến năm 2020 có thu nhập bình quân đầu người đạt 2000 usd và về cơ bản trở thành một nước công nghiệp. đó là sự phấn đấu không mệt mỏi của nhân dân ta và là điều rất đáng vui mừng.
Tuy nhiên, cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế từ sự phát triển sản xuất công nghiệp tăng nhanh, qua kiểm tra của Bộ Tài nguyên và Môi trường trên diện rộng đối với 7 khu công nghiệp, 4 cụm công nghiệp, 7 làng nghề, 55 cơ sở nằm ngoài các khu, cụm công nghiệp và làng nghề - đã kết luận: thủ phạm làm chết các dòng sông, gây ô nhiễm môi trường là các khu công nghiệp, các doanh nghiệp.
Hiện nay, ở khắp cả nước, các dòng sông đều kêu cứu do ô nhiễm nặng nề, ôxy hòa tan trong nước gần như bằng không. nhiều con sông, nguồn nước của nhân dân đã trở thành dòng sông chết : cá chết, bèo cũng không sống nổi.
Theo báo cáo của chi Cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, hiện mỗi ngày đêm có khoảng 500.000m 3nước thải của khu vực nội thành đổ vào 4 con sông thoát nước chính và một số hồ của Hà Nội. Bốn con sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ và Sét bị ô nhiễm nặng. Nước các sông đen kịt, bốc mùi hôi thối, rác thải trôi lềnh bềnh nên được gọi là các con sông chết.
Ở thành phố Hồ Chí Minh: các kênh rạch Nhiêu Lộc – Thị Nghè, kênh Đôi, kênh Tẻ, Tàu Hủ, Đông Điền…; ở Huế: các sông Hương, Phát Lát, Địa Linh, An Đức, Nam Phổ…; ở đồng bằng sông Cửu Long: sông Tiền, sông Hậu, Vàm Cỏ Đông, Vàm Cỏ Tây…; ở khắp các tỉnh, thành trong cả nước, các con sông – nguồn sống của dân mình, đều kêu cứu vì ô nhiễm nặng nề.
Các vấn đề cấp bách về môi trường ở nước ta như sự giảm sút độ che phủ do mất mát diện tích rừng; diện tích, chất lượng đất canh tác suy giảm; môi trường nước, không khí và đất ở nhiều vùng của nước ta bị ô nhiễm nặng nề; môi trường đô thị và sản xuất công nghiệp, dịch vụ đang làm gia tăng ô nhiễm; môi trường biển và ven biển bị xuống cấp; hậu quả chiến tranh vẫn còn nặng nề.
Nguyên nhân của tình trạng ô nhiễm môi trường có rất nhiều, nhưng theo khảo sát của các nhà khoa học, có những vấn đề sau đây đang rất cần đến trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, của mỗi doanh nghiệp, mỗi tổ chức và của mỗi chúng ta.
1. Vấn đề quy hoạch
Hiện nay, nhiều khu công nghiệp được hình thành ở những nơi rất nhạy cảm về môi trường nước, môi trường đất và môi trường không khí. cần tập trung thực hiện tốt quyi hoạch phát triển kinh tế – xã hội trong mối gắn kết hài hòa giữa yêu cầu phát triển và yêu cầu bảo vệ môi trường, như quy hoạch phát triển các khu công nghiệp gắn kết với qui hoạch phát triển nông – lâm – ngư, dịch vụ – du lịch để vừa bảo đảm phát triển kinh tế vừa bảo đảm nhu cầu an ninh lương thực của đất nước cho hiện tại và cho tương lai; qui hoạch phát triển các khu đô thị và các khu, cụm dân cư gắn kết với nhu cầu cấp nước sạch, xử lý nước thải, bảo vệ môi trường; qui hoạch phát triển hệ thống giao thông đường bộ, đường thủy, trong đó giải quyết hài hòa các vấn đề ngập mặn, ngập lũ, lở đất…
2. Nâng cao quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường
Hiện nay chúng ta đã có Luật Bảo vệ môi trường. nhìn từ góc độ quản lý nhà nước, chúng ta thấy các ngành, các cấp từ trung ương đến địa phương chưa thực hiện tốt Luật Bảo vệ môi trường. vì vậy, vấn đề cấp thiết hiện nay là phải nâng cao năng lực nhà nước về bảo vệ môi trường, cần có cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan, các ngành, các cấp, các địa phương, có cơ chế qui định trách nhiệm, quyền hạn, các nhiệm vụ cụ thể và các chế tài xử lý nhằm nâng cao chất lượng công tác bảo vệ môi trường.
3. Cần tiến hành điều tra, đánh giámột cách tổng thể vấn đề bảo vệ môi trường của cả nước từ các hoạt động sản xuất, dịch vụ và tác hại của các hóa chất trong cuộc chiến tranh vừa qua, nghiên cứu sự tồn dư của chất độc dioxin, tác hại của nó đến cộng đồng dân cư, để qua đó đề xuất các kế hoạch hỗ trợ, khắc phục hậu quả lâu dài cho các vùng còn tồn động các hóa chất độc hại từ thời chiến tranh.
4. Tăng cường năng lực đào tạo cán bộ khoa học và nghiên cứu khoa học về bảo vệ môi trường,ứng dụng công nghệ mới trong sản xuất nhằm bảo vệ môi trường một cách có hiệu quả trong quà trình phát triển kinh tế – xã hội. tập trung nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ xử lý môi trường như: công nghệ xử lý nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt; công nghệ xử lý chất thải công nghiệp và chất thải sinh hoạt; công nghệ xử lý nước thải và rác thải y tế; công nghệ xử lý chất thải trong chế biến và nuôi trồng thủy hải sản, công nghệ sinh học trong xử lý ô nhiễm môi trường; công nghệ cung cấp nước ngọt hợp vệ sinh cho các khu đô thị và vùng nông thôn…
![]() |
5. Tăng cường công tác truyền thông giáo dục môi trường, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường đến các tổ chức, doanh nghiệp, trường học, khu dân cư để mọi tổ chức, mọi người hiểu biết, tuân thủ và bảo vệ môi trường.
6. Tăng cường công tác giàm sátcủa các tổ chức, đoàn thể, của các cộng đồng dân cư và của mọi người dân đối với vấn đề bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các khu dân cư.
Đề nghị Chính phủ giao cho Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam và Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật các tỉnh, thành nhiệm vụ tư vấn, phản biện và giám định xã hội tất cả các dự án, công trình phát triển kinh tế – xã hội lớn theo định mức, trong đó hết sức quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ môi trường. tiếng nói của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong tổ chức chính trị – xã hội này có giá trị rất lớn trong việc bảo vệ môi trường ở cả nước và ở các địa phương.
7. Trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, cần nghiên cứu tiếp nhận, chuyển giao các công nghệ xử lý môi trường hiện đại, hiệu quả, kinh tế; tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế về nghiên cứu khoa học bảo vệ môi trường, nghiên cứu tiếp nhận các tài trợ quốc tế về bảo vệ môi trường; không nhập rác thải độc hại, công nghệ lạc hậu làm ảnh hưởng đến môi trường sống của cộng đồng dân cư nước ta.
8.C ó cơ chế khen thưởng xứng đángcác tổ chức, doanh nghiệp, đoàn thể, cá nhân có công trong bảo vệ môi trường và phạt nghiêm khắc những đơn vị và cá nhân vi phạm Luật Bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường là bảo vệ sự sống của chúng ta và con cháu mai sau. Vì vậy, mỗi tổ chức, mỗi đoàn thể, mỗi doanh nghiệp, mỗi công dân Việt Nam chúng ta hãy chung tay góp sức bảo vệ môi trường vì chính chúng ta và vì con cháu chúng ta.









