Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 25/12/2006 23:37 (GMT+7)

Bảo tồn và tiếp biến văn hóa thời Lý qua tượng Phật chùa Phật Tích

1. Bảo tồn bản sắc của văn hóa thời Lý

Bằng yếu tố Mẹ qua tượng Phật chùa Phật Tích (1)

Nhìn dọc theo các mốc thẩm mỹ nước nhà thì thẩm mỹ thời Lý là mốc thẩm mỹ thứ hai sau thẩm mỹ Đông Sơn, nhưng về thiết chế xã hội là thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập đầu tiên. Do những yếu tố lịch sử đương thời cũng như thừa hưởng cái gốc sâu bền từ những thời đại trước mà ở thời Lý đã hình thành nền văn hóa đa dạng, nhiều chiều.

Nét khái quát lớn nhất là văn hóa thời Lý giải Hoa để trở về với văn hóa Đông Nam Á vốn chung sống từ thuở Đông Sơn. Một trong những yếu tố văn hóa bản địa của người Việt nói riêng và của vùng văn minh lúa nước nói chung là tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẹ. Ở tục thờ nữ thần, tín ngưỡng Mẫu của người Việt, hình ảnh Mẹ âu Cơ, mẹ Gióng, Phật Mẫu, các bà Tứ Pháp, hệ thống Mẫu… hình tượng nữ tính là hình tượng hằng xuyên trong văn hóa Việt, thẩm mỹ Việt.

Đối với thẩm mỹ thời Lý, yếu tố Mẹ hiện diện trên tượng Đức Phật thanh cao, bao dung và mát lành. Ngắm gương mặt thanh tú của tượng Đức Phật, có thể thấy sống mũi rất thoát với các nét mày, khóe mắt, bờ môi của nữ tính, vẻ kín đáo trong từng lớp áo dịu dàng, dáng hình mảnh mai, đôi bờ vai xuôi nhẹ tảo tần với cổ kiêu ba ngấn đến là duyên kia làm ta thấy tha thiết cái tình bao la của Mẹ Việt.

Bằng phương pháp tạo hình Việt qua tượng Phật ở chùa Phật Tích

Dù thẩm mỹ thời Lý vẫn tựa vào tiêu chuẩn không gian ba chiều của điêu khắc thế giới nhưng vẫn thản nhiên gắn với phương pháp tạo hình ước lệ vốn là lề lối từ thưở tiền Đông Sơn cho mãi đến nghệ thuật đình làng Ước lệ là cách ứng xử tạo hình rất riêng của người Việt.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, ta đã có thể cảm nhận rằng chiều chính diện của tượng một cái nhìn ôm choán lấy tổng thể mà dường như quên đi tỷ lệ mặt nghiêng có phần bị lép đi, vơi đi cái thân hình quá mảnh của tượng Đức Phật. Ta nhận thấy, về tỷ lệ, dường như vô lý ở đâu đó dăm ba chi tiết nhỏ, ước lệ mà không giả định, nó đủ đầy để đem lại hợp lý trong cấu trúc tổng thể.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Ấn

Văn hóa Ấn Độ đồng nhất thần thánh với con người, bao gồm cả tu hành và tham vọng, thánh thiện và nhục cảm. Ở tạo hình, chất nhục cảm cứ rung lên khao khát theo từng làn cơ bắp nhỏ nhất, những người đẹp hoan hỷ lõa thể với một chút e lệ Á Đông, cho ta có cảm giác nhân vật đang do dự giữa nhục cảm, bản năng gốc và tiết hạnh, nết na, những khát khao cứ cồn cào trong đời sống âm thầm của đá, mong mỏi xóa đi cái lằn ranh nhọc nhằn giữa thiêng liêng và trần tục. Ở tư duy tạo hình Ấn Độ nhục cảm là mẫu số chung, nhưng điều đó đã bị gạt một cách cương quyết ra khỏi nhận thức thẩm mỹ của người Việt. Quả là cách ứng xử sòng phẳng.

Tượng Đức Phật ở Phật Tích không thuộc về trần thế, nó thuộc thế giới thiêng liêng của lòng mộ đạo, cảnh giới thanh tịnh và siêu nhiên, ý niệm cao thượng, biểu tượng của đỉnh cao chân lý, đạo đức và giải thoát. Cái đẹp của tượng Đức Phật ở Phật Tích là biểu tượng thẩm mỹ thời Lý, đó là sự cao cả, phi phàm và lý tưởng hóa.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Hoa

Dù khôn khéo thế nào, dù đề tài Phật giáo có từ bi và minh triết vô tận thì uy lực của đế chế Hán - Đường và tinh thần tuyệt đối hóa Trung Hoa vẫn đẩy các vị Phật trong hang Đôn Hoàng đến cái đẹp hốt hoảng, xô đẩy tâm thức con người tuân theo và quy phục Đức Phật như quy phục trước quyền lực của đế chế. Suy cho cùng, đó là nỗi sợ hãi truyền kiếp của con dân hèn mọn trước uy lực của vương quyền.

Văn hóa thời Lý từ chối tiếp nhận và đối lập lại với uy quyền, nam tính của các vị Phật Đại Đường, tượng Đức Phật ở Phật Tích đến với chúng sinh bằng lòng yêu thương và che chở bao la của tình Mẹ, bằng cái đẹp thanh tao và xinh xắn, đó là cuộc đối thoại âm thầm trong tâm thức để con người tìm về bản chất người trong tâm mình (Minh tâm kiến tính).

Văn hóa thời Lý giữ gìn độc lập quả là khôn khéo. Trong lúc đó, văn hóa Nhật Bản đôi khi trở thành đoạn kéo dài của thẩm mỹ Trung Hoa, văn hóa Champa mang nặng thẩm mỹ văn hóa của Ấn Độ suốt một thời gian dài. Ngay bản thân văn hóa ấn Độ đồ sộ và vĩ đại như vậy, trong những khúc ngoặt của lịch sử cũng không thể cưỡng lại sự quyến rũ ở cấu trúc hấp dẫn của thẩm mỹ cổ điển Hy Lạp.

Sự bảo tồn những yếu tố văn hóa của dân tộc đã tạo cho văn hóa thời Lý khả năng chống lại sự nô dịch các vùng văn hóa lớn mà vẫn tiếp biến những yếu tố tinh hoa, có lợi cho sự phát triển của văn hóa Việt.

2. Giá trị tiếp biến văn hóa của tác phẩm

“Không một nền văn hóa nào đứng chơ vơ trước lịch sử như một hòn đảo, sự giao thoa văn hóa là lẽ tự nhiên và rất nhân loại” (2).

Sự giao thoa là lẽ tự nhiên nhưng tiếp nhận yếu tố văn hóa tinh hoa của nền văn hóa khác (yếu tố ngoại sinh) và Việt hóa chúng để phù hợp với văn hóa dân tộc (yếu tố nội sinh) là đặc thù của văn hóa thời Lý.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Trung Quốc

Phong cách diễn tả tà áo của tượng Đức Phật ở Phật Tích là đem lại cho đá một đời sống của vải mềm, đủ mềm chứ không quá mềm và xô lệch tới rối mắt như ở tượng hang Phật Cười, Triết Giang. Nó cho ta thấy sự tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa ở thời này là ít. Mặc dù, trong lịch sử, văn hóa Trung Hoa đã cưỡng bức người Việt phải tiếp nhận, nhưng ở thời kỳ này tinh thần dân tộc đã khá rõ ràng và trong tiếp nhận có xu hướng giải Hoa để tìm về với văn hóa Đông Nam Á và văn hóa gốc Ấn Độ.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Ấn Độ

Sự tiếp biến văn hóa Ấn Độ ở nghệ thuật thời Lý là thừa hưởng từ giai đoạn trước, với thái độ tự nguyện từ hai phía, mà hệ thống Tứ Pháp với các chùa Dâu, Đậu, Dàn, Tướng là minh chứng cho sự tự nguyện giao thoa Việt - Ấn.

Ở tác phẩm này, thoạt nhìn những đường nét nổi ở nếp áo trên thân tượng, chúng tôi không muốn nhắc lại ý kiến của nhiều người khác là giống gân lá sen, cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là những đường gân đó thật gần gũi với tượng Phật và phù điêu chạm nổi ở nghệ thuật Gandhara thời kỳ Kusshan - Ấn Độ (TK II).

Nhưng để nói rằng tượng Đức Phật ở Phật Tích giàu chất Ấn, thì chất Ấn ôm trùm lên tổng thể lại là tư tưởng của bộ thư tịch thẩm mỹ, nghệ thuật vĩ đại Sadanga của Ấn Độ.

Sadanga, gồm sáu chuẩn của thẩm mỹ Ấn Độ cho đến nay vẫn là ẩn số về xuất xứ và tác giả, ngay Tagore là người giới thiệu và bênh vực bản quyền thuộc Ấn Độ của Sadanga cũng không làm sáng tỏ được ẩn số kia dù văn minh sông Hằng, sông Ấn đã chứa đựng nó từ rất lâu. âu cũng là bí mật của lịch sử,

Rupa Bhêda, khoa học về hình tướng, là chuẩn mực quan trọng hơn cả trong sáu chuẩn mực, cũng như trong tác phẩm này, là thể hiện toàn vẹn sự đồng nhất giữa nội dung và hình thức; là khoa học toàn diện về hình thức (vật chất) và sắc tướng (thần thái- tinh thần).

Nếu nghệ sĩ tiếp cận với sự vật mà chỉ ở bên ngoài sự vật một cách vật chất, vốn chỉ chứa chất những đổi thay nông nổi, giả tạm, là người nghệ sĩ chưa nắm chút gì sự thật cả, vì thần tướng bên trong mới là sự sống của tác phẩm bởi nó hàm chứa tư tưởng, thần thái là giá trị vĩnh cửu và siêu việt. Cho nên, Sadanga đã chỉ rõ, thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật đều bằng tâm. Đối với phương Tây khái niệm tâm là khái niệm ngông tưởng và mờ nhạt nhưng đối với người phương Đông, tâm là tư tưởng vô hạn, là thái độ sống và triết lý về cái chết - nó vượt ra ngoài lẽ tử sinh.

Rupa ở tượng Đức Phật ở Phật Tích là cảm nhận bằng tâm thức cái hình bên ngoài và cái tướng ở bên trong. Nghệ sĩ sáng tạo tượng Đức Phật ở Phật Tích tiếp thu Rupa của Sadanga ở cả hai chiều, bên trong và bên ngoài của hình tướng.

Bhava, tình cảm với hình tướng. Thẩm mỹ Ấn độ và tượng Đức Phật ở Phật Tích đều có điểm chung là hướng nội. Nhận thức nghệ thuật không phải là chiếm đoạt bằng vật chất của tác phẩm mà là hòa vào bên trong nó bằng tình cảm và xúc động, thức tỉnh bản chất người trong ta, tác động tình cảm lên hình tướng. Ở đây, đỉnh cao của thưởng thức và sáng tạo là tâm thức con người hòa vào tác phẩm để ngân lên bản tình ca nhân loại. Nhưng khi tâm ta đạt đến thanh tịnh, trong sáng và phẳng lặng như mặt hồ nước, thì tình cảm lại là trạng thái khơi dậy cảm xúc thẩm mỹ, không có tình cảm tác động thì tâm cứ im lặng và trống không. Muốn tiếp cận được điều này, trước hết tình cảm của chúng ta không bị đánh lừa bởi biểu hiện nông nổi bên ngoài sự vật, lại không bị một trạng thái tâm lý cực đoan nào chi phối.

Khi ta ngắm nhìn chu vi tượng để cảm nhận về luân hồi, dáng ngồi tĩnh tọa gợi lên sự an lành nơi thần thái, phiêu diệu trong nếp áo mỏng nhẹ, vẻ tròn trĩnh dưới làn nét mà điểm tụ của chúng chạy hút vào hư vô, cuốn ta vào suy tư về thân phận con người. Cái khoáy áo phía sau lưng, bên tay phải thực là đột hứng ngoài niêm luật như tiếng cười sảng khoái của nghệ sĩ sau chuỗi dài hóa hồn vào thân Phật. ánh sáng ngưng đọng hòa điệu cùng khối làm tâm tư ta tìm thấy nhịp độ bình tĩnh và an lạc, đôi môi nồng nàn cuộc sống kia như hứa hẹn một nụ cười hoan hỷ sẽ mãn khai làm ta bâng khuâng biết bao hy vọng. Những cảm xúc ấy từ đâu mà có? Nếu không có tình cảm như cơn gió làm gợn lên những làn sóng xúc cảm trên mặt hồ tâm thức, hình tướng của tượng đòi hỏi được tắm mình trong tình cảm. Tác phẩm đã tiếp biến Rupa và Bhava trong Sadanga chính là quá trình tinh thần hóa cái đẹp.

Như vậy, thông qua tượng Đức Phật ở Phật Tích, ta nhận thấy, sự bảo tồn và tiếp biến văn hóa đủ độ, đúng cách đã tạo ra văn hóa thời Lý những tinh hoa quý báu, chứng minh cha ông ta đã thành công trong quá trình hội nhập. Bài học đó dường như không chỉ là ngày hôm qua mà nó vẫn còn nguyên vẹn những giá trị cho hôm nay và mai sau.

______________________
1. Tượng Đức Phật chùa Phật Tích ( Bắc Ninh), chất liệu đá, cao 184 cm không kể bệ tượng, TK XI. Có nhiều tài liệu gọi là tượng A Di Đà, theo văn bia chùa Phật Tích có ghi: Đức Phật mình vàng. Ở đây, chúng tôi gọi là tượng Đức Phật chùa Phật Tích.

2. Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật xb, Hà Nội, 1995.

Nguồn: hoidantochoc.org.vn   (11/05/06)

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Đắk Lắk: Góp ý Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050
Ngày 21/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức họp Hội đồng tư vấn, phản biện và góp ý đối với Đề án điều chỉnh quy hoạch tỉnh Đắk Lắk thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. TS. Phan Xuân Lĩnh, Chủ tịch Liên hiệp hội, chủ trì cuộc họp.
Lào Cai: Khởi động dự án Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững
Ngày 25/5, tại xã Đông Cuông, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng Yên Bái (YENBAI CDSH) tổ chức hội thảo khởi động dự án “Bảo vệ quyền Trẻ em và Phụ nữ, xây dựng cộng đồng bền vững” để giới thiệu các nội dung của Dự án và kế hoạch triển khai năm thứ nhất.
Thanh Hóa: Phản biện đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa
Sáng ngày 22/5/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội thảo khoa học phản biện “Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đổi mới và tự chủ của Viện Nông nghiệp Thanh Hóa giai đoạn 2026 - 2030”.
Hải Phòng: Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Sáng 21/5, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) thành phố Hải Phòng phối hợp với Hội Nữ trí thức thành phố tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề: “Phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố Hải Phòng trong thực hiện các đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng”.
GS.TSKH Phan Xuân Dũng: "Hãy trao dũng khí để trí thức dám nghĩ, dám làm và đưa đất nước vươn mình"
Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam (18/5) năm nay mang ý nghĩa đặc biệt khi đất nước đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển, hướng tới khát vọng vươn mình trong kỷ nguyên số. Trong dòng chảy ấy, vai trò của đội ngũ trí thức khoa học – công nghệ càng được đặt ở vị trí trung tâm, không chỉ với sứ mệnh nghiên cứu mà còn là lực lượng kiến tạo động lực phát triển mới cho quốc gia.
VICA - Khẳng định vị thế kế toán hành nghề Việt Nam
Trong bức tranh kinh tế năng động của Việt Nam hiện nay, dịch vụ kế toán, kiểm toán đã khẳng định vị thế là một lĩnh vực dịch vụ cao cấp, không thể thiếu đối với sự vận hành minh bạch của thị trường. Đằng sau sự phát triển đó, không thể không nhắc đến vai trò của Chi Hội Kế toán hành nghề Việt Nam (VICA).