Báo động về ô nhiễm môi trường nông nghiệp Việt Nam
Theo điều tra mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong số 21 triệu ha đất đang được sử dụng trong canh tác nông lâm nghiệp thì có tới 9,34 triệu ha đất hoang hoá, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc bạc màu, đang có nguy cơ bị thoái hoá nghiêm trọng. Hoang mạc hoá cục bộ thường xảy ra ở những dải cát dài và hẹp trải dài duyên hải miền Trung với diện tích khoảng 430.000 ha. Ước tính mỗi năm có khoảng 10 – 20 ha đất canh tác bị cát che phủ.
Tài liệu của Hội nghị Chống sa mạc hoá do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa được tổ chức 2 - 2006 tại Hội An cho biết riêng Thừa Thiên Huế hiện có khoảng 15.754 ha đất bị hoang hoá và xói mòn, tập trung chủ yếu ở vùng cát 7.742 ha và vùng gò đồi 8.012 ha.
Đăk Lăk có 455 ha đất đồi núi đá không có rừng cây; 123.000 ha đất đồi núi chưa sử dụng do bạc màu và nhiễm chất độc hoá học trong chiến tranh ; 29.900 ha thuộc loại đất mòn trơ sỏi đá không có khả năng canh tác. Đất bị rửa trôi hàng năm là 100 - 120 tấn/ ha (đất bị bào mòn bề mặt từ 1 - 2 cm), có khoảng 70% diện tích đất nông nghiệp bị suy thoái do canh tác chưa hợp lý, ví dụ 41% diện tích cà phê đang trồng ở độ dốc 8 – 30% có thể bị sói mòn.
Lượng phân hoá học bình quân sử dụng cho 1 ha gieo trồng ở Việt Nam (80 - 90 kg/ha) tuy không lớn so với thế giới (Hà Lan : 758 kg/ha; Nhật Bản: 430 kg/ha…) nhưng nó lại là sức ép lớn đến môi trường đất nông nghiệp bởi việc sử dụng không đúng kỹ thuật nên có đến trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô nhiễm đất, nước ngầm và nước mặn. Chất lượng phân bón lại còn không được đảm bảo bởi hiện nay ngoài lượng phân bón được nhập khẩu theo con đường chính thống do Nhà nước quản lý hoặc do các Doanh nghiệp công nghiệp trong nước sản xuất thì còn một số lượng lớn phân bón nhập lậu chưa kiểm soát được cộng thêm phần do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trong nước không đảm bảo chất lượng. Chính lượng phân bón này đang gây áp lực và ảnh hưởng xấu tới môi trường đất.
Các nguyên nhân gây hoang mạc hoá ở Việt Nam được xác định là do đói nghèo, gia tăng dân số, quỹ đất canh tác ít; phá rừng, đất trống đồi núi trọc; biện pháp canh tác không bền vững; chăn thả gia súc quá mức; thể chế, chính sách chưa đầy đủ, kịp thời và đồng bộ; chiến tranh; hạn hán, tác dộng bất lợi của biến đổi khí hậu và do đặc thù của địa hình. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến suy giảm tài nguyên đất là mất rừng. Phần lớn rừng tự nhiêm thuộc nhóm rừng nghèo, rừng nguyên sinh chỉ còn 0,57 triệu ha phân bố rải rác. Rừng trồng công nghiệp mang tính thuần loại về cây trồng cao, tính đa dạng sinh học thấp. Khả năng phục hồi rừng chậm trong khi tổng diện tích rừng bị cháy tăng lên từ 4.233 ha năm 2004 lên 6.792,18 ha năm 2005. Suy thoái đất dẫn đến giảm năng suất cây trồng, vật nuôi làm nghèo thảm thực vật, suy giảm đa dạng sinh học. Đồng thời chúng có tác dụng ngược lại làm cho quá trình xói mòn, thoái hoá đất diễn ra nhanh hơn. Sự tích tụ cao các chất độc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng, vật nuôi và gián tiếp làm ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người.
Hàng năm lượng hoá chất BVTV được sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5 - 3,5 kg/ha/vụ, dư lượng hoá chất BVTV và phân khoáng gây phù dưỡng hoặc nhiễm độc nước. Ngoài ra, hoạt động của trên 1.450 làng nghề cả nước tạo ra một lượng chất thải rất lớn và hầu như không được xử lý, gây tình trạng ô nhiễm trầm trọng nguồn nước tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng nghề làm giấy, giết mổ gia súc, dệt, nhuộm… Mỗi ngày làng nghề mổ trung bình 80 - 100 con trâu bò, 250 - 300 con lợn. Mỗi gia đình làm nghề chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm thải ra 3 - 4 m3 nước thải, 80 -000 kg phân và 15 - 20 kg xương/ ngày. Tất cả các chất thải hầu như chưa được xử lý, xả trực tiếp ra ao, hồ, ruộng lúa quanh làng. Tỷ lệ hố xí tự hoại và bán tự hoại chỉ đạt 32,5% (năm 2004), còn phổ biến nhiều hố tiêu không hợp vệ sinh ở hầu khắp các vùng trên toàn quốc cũng là yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.
Nguồn nước ngầm còn bị ô nhiễm bởi nước thải rò rỉ từ các hố tiêu huỷ gia cầm (hơn 40 triệu gia cầm tức gần 20% tổng đàn đã bị tiêu hủy vào năm 2004) do việc chôn lấp gia cầm bị dịch không đúng quy cách. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải này rất cao trong khi thời gian phân huỷ của gia cầm trong hố kéo dài có thể tới vài năm. Hiện tượng ô nhiễm này đã thấy rõ ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long. Khi dịch cúm gia cầm tạm thời lắng xuống thì dịch LMLM ở gia súc móng guốc lại chưa được kiểm soát triệt để. Những nơi chôn lấp vật nuôi mắc dịch không có lót đáy và tiến hành đúng quy trình sẽ là hiểm hoạ lâu dài cho sự ô nhiễm đất và nước ở nông thôn.
Tỷ lệ nhân dân được dùng nước sạch ở nông thôn chỉ chiếm khoảng 40%. Hiện có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quan đến nguồn nước bị nhiễm VSV như các bệnh do virus, giun sán, côn trùng, bệnh tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, tiêu chảy, các bệnh ngoài da, bệnh mắt… Nguyên nhân chủ yếu do nông dân chưa có thói quen vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, khử trùng tiêu độc, nguồn phân và nước thải có mặt ở khắp mọi nơi. Nông dân còn quen sử dụng phân tươi, thuốc trừ sâu độc hại mà không sử dụng đúng cách, liều lượng và loại thuốc phù hợp. Còn chưa cách ly khu chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh ra xa nhà ở, bếp, sân chơi… Hệ thống thoát nước đơn giản, gần như không xử lý được các chất thải lỏng.
Toàn bộ bụi các khí độc hại CO, CO 2, SO 2… phun ra từ các làng nghề đun đốt lò thủ công đều không hề được xử lý. Tiếng đập, tiếng gõ và muôn vàn tiếng động cơ nhỏ khác cứ rầm rầm, rào rào như muốn làm rách toạc cái không khí mà xưa còn yên ả của các làng nghề chế tạo công cụ, gốm, sứ, giết mổ….
Chăn nuôi là ngành có nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở nông thôn. Trong tổng số metan do chăn nuôi thải ra trên thế giới 74% sản sinh từ bò, 4,38% từ trâu, 5,1% từ dê, cừu, còn lại là từ các vật nuôi khác. Việt Nam chăn nuôi bò đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chăn nuôi đại gia súc (5,54 triệu con), trâu (2,9 triệu con), dê và cừu (1,3 triệu con) nên lượng khí thải từ chăn nuôi đại gia súc cũng khá lớn trong khi việc dùng chế phẩm giảm ô nhiễm trong chăn nuôi, sử dụng các vắc xin ức chế loại vi khuẩn gây khí mêtan trong dạ cỏ gia súc nhai lại, các loại máy OZON làm sạch không khí trong các cơ sở chăn nuôi… còn rất ít ỏi. Ngoài các khí thải ô nhiễm do sinh lý vật nuôi gây ra (hô hấp, tiêu hoá, kêu, rống…) còn lượng khí thải (NO, CO 2, CH 4) từ đất trồng lúa (0,8 g CH 4/m 2/ngày), cỏ (142pg NO/m 2/giờ), hoa màu, đốt rơm, rác… Các loại khí gây hiệu ứng nhà kính chủ lực này đều chưa có biện pháp xử lý.
Trong khi đàn gia súc luôn thiếu thức ăn thô xanh vào mùa khô và thức ăn còn nghèo đạm làm tăng năng suất, chất lượng thịt, sữa chỉ nhích được một tý một thì cả một nguồn thụ phẩm công, công nghiệp như vỏ bã dứa, vỏ và thịt quả cà phê, thịt quả giả của điều, máu, xương, lông vũ… còn đang rất lãng phí, thải đống hoặc xả vào hệ sinh thái trong làng, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.
Hệ sinh thái nông nghiệp và giống cây trồng, vật nuôi truyền thống bị suy giảm. Diện tích trồng các giống lúa địa phương giảm 50%, số lượng trồng lúa địa phương bị mất 80%. Đối với các loại ngô, đậu đỗ, các con số tương ứng là 75%, 50%, cây có củ mất đi là 75%, chè mất khoảng 20% các loại giống, đay là 90% và cây ăn quả là 50%. Nhiều giống vật nuôi của Việt Nam đã bị mất hoặc bị suy giảm hoặc bị lai tạp như lợn Ỉ Mơ, lợn Lang hồng, lợn Phú Khánh, lợn cỏ, lợn Sơn Vi, gà Vân Phú, lợn Ba Xuyên, gà Hồ, chó Phú Quốc, vịt mốc…
Nông nghiệp Việt Nam chắc chắn tiếp tục phát triển với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ. Để khắc phục các hậu quả môi trường và phát triển bền vững cho nền nông nghiệp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện Luật môi trường. Trồng trọt và chăn nuôi thâm canh, theo hướng tập trung trên nền tảng môi trường đã được quy hoạch và thiết kế phù hợp với từng địa phương. Khuyến khích trồng trọt và đặc biệt là chăn nuôi theo hướng đặc sản để bảo vệ nguồn gen nội địa, khai thác lợi thế vùng, xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam một cách an toàn và tăng tính cạnh tranh trong xu thế hội nhập.








