Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 01/04/2009 15:45 (GMT+7)

Báo động về ô nhiễm môi trường nông nghiệp Việt Nam

Theo điều tra mới nhất của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong số 21 triệu ha đất đang được sử dụng trong canh tác nông lâm nghiệp thì có tới 9,34 triệu ha đất hoang hoá, chủ yếu là đất trống đồi núi trọc bạc màu, đang có nguy cơ bị thoái hoá nghiêm trọng. Hoang mạc hoá cục bộ thường xảy ra ở những dải cát dài và hẹp trải dài duyên hải miền Trung với diện tích khoảng 430.000 ha. Ước tính mỗi năm có khoảng 10 – 20 ha đất canh tác bị cát che phủ.

Tài liệu của Hội nghị Chống sa mạc hoá do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn kết hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường vừa được tổ chức 2 - 2006 tại Hội An cho biết riêng Thừa Thiên Huế hiện có khoảng 15.754 ha đất bị hoang hoá và xói mòn, tập trung chủ yếu ở vùng cát 7.742 ha và vùng gò đồi 8.012 ha.

Đăk Lăk có 455 ha đất đồi núi đá không có rừng cây; 123.000 ha đất đồi núi chưa sử dụng do bạc màu và nhiễm chất độc hoá học trong chiến tranh ; 29.900 ha thuộc loại đất mòn trơ sỏi đá không có khả năng canh tác. Đất bị rửa trôi hàng năm là 100 - 120 tấn/ ha (đất bị bào mòn bề mặt từ 1 - 2 cm), có khoảng 70% diện tích đất nông nghiệp bị suy thoái do canh tác chưa hợp lý, ví dụ 41% diện tích cà phê đang trồng ở độ dốc 8 – 30% có thể bị sói mòn.

Lượng phân hoá học bình quân sử dụng cho 1 ha gieo trồng ở Việt Nam (80 - 90 kg/ha) tuy không lớn so với thế giới (Hà Lan : 758 kg/ha; Nhật Bản: 430 kg/ha…) nhưng nó lại là sức ép lớn đến môi trường đất nông nghiệp bởi việc sử dụng không đúng kỹ thuật nên có đến trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hoặc gián tiếp gây ô nhiễm đất, nước ngầm và nước mặn. Chất lượng phân bón lại còn không được đảm bảo bởi hiện nay ngoài lượng phân bón được nhập khẩu theo con đường chính thống do Nhà nước quản lý hoặc do các Doanh nghiệp công nghiệp trong nước sản xuất thì còn một số lượng lớn phân bón nhập lậu chưa kiểm soát được cộng thêm phần do các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất trong nước không đảm bảo chất lượng. Chính lượng phân bón này đang gây áp lực và ảnh hưởng xấu tới môi trường đất.

Các nguyên nhân gây hoang mạc hoá ở Việt Nam được xác định là do đói nghèo, gia tăng dân số, quỹ đất canh tác ít; phá rừng, đất trống đồi núi trọc; biện pháp canh tác không bền vững; chăn thả gia súc quá mức; thể chế, chính sách chưa đầy đủ, kịp thời và đồng bộ; chiến tranh; hạn hán, tác dộng bất lợi của biến đổi khí hậu và do đặc thù của địa hình. Một trong những nguyên nhân lớn nhất dẫn đến suy giảm tài nguyên đất là mất rừng. Phần lớn rừng tự nhiêm thuộc nhóm rừng nghèo, rừng nguyên sinh chỉ còn 0,57 triệu ha phân bố rải rác. Rừng trồng công nghiệp mang tính thuần loại về cây trồng cao, tính đa dạng sinh học thấp. Khả năng phục hồi rừng chậm trong khi tổng diện tích rừng bị cháy tăng lên từ 4.233 ha năm 2004 lên 6.792,18 ha năm 2005. Suy thoái đất dẫn đến giảm năng suất cây trồng, vật nuôi làm nghèo thảm thực vật, suy giảm đa dạng sinh học. Đồng thời chúng có tác dụng ngược lại làm cho quá trình xói mòn, thoái hoá đất diễn ra nhanh hơn. Sự tích tụ cao các chất độc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hại trong cây trồng, vật nuôi và gián tiếp làm ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người.

Hàng năm lượng hoá chất BVTV được sử dụng trong nông nghiệp khoảng 0,5 - 3,5 kg/ha/vụ, dư lượng hoá chất BVTV và phân khoáng gây phù dưỡng hoặc nhiễm độc nước. Ngoài ra, hoạt động của trên 1.450 làng nghề cả nước tạo ra một lượng chất thải rất lớn và hầu như không được xử lý, gây tình trạng ô nhiễm trầm trọng nguồn nước tại nhiều điểm, đặc biệt là các làng nghề làm giấy, giết mổ gia súc, dệt, nhuộm… Mỗi ngày làng nghề mổ trung bình 80 - 100 con trâu bò, 250 - 300 con lợn. Mỗi gia đình làm nghề chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm thải ra 3 - 4 m3 nước thải, 80 -000 kg phân và 15 - 20 kg xương/ ngày. Tất cả các chất thải hầu như chưa được xử lý, xả trực tiếp ra ao, hồ, ruộng lúa quanh làng. Tỷ lệ hố xí tự hoại và bán tự hoại chỉ đạt 32,5% (năm 2004), còn phổ biến nhiều hố tiêu không hợp vệ sinh ở hầu khắp các vùng trên toàn quốc cũng là yếu tố gây ô nhiễm nguồn nước nghiêm trọng.

Nguồn nước ngầm còn bị ô nhiễm bởi nước thải rò rỉ từ các hố tiêu huỷ gia cầm (hơn 40 triệu gia cầm tức gần 20% tổng đàn đã bị tiêu hủy vào năm 2004) do việc chôn lấp gia cầm bị dịch không đúng quy cách. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải này rất cao trong khi thời gian phân huỷ của gia cầm trong hố kéo dài có thể tới vài năm. Hiện tượng ô nhiễm này đã thấy rõ ở một số địa phương vùng đồng bằng sông Cửu Long. Khi dịch cúm gia cầm tạm thời lắng xuống thì dịch LMLM ở gia súc móng guốc lại chưa được kiểm soát triệt để. Những nơi chôn lấp vật nuôi mắc dịch không có lót đáy và tiến hành đúng quy trình sẽ là hiểm hoạ lâu dài cho sự ô nhiễm đất và nước ở nông thôn.

Tỷ lệ nhân dân được dùng nước sạch ở nông thôn chỉ chiếm khoảng 40%. Hiện có tới 80% các bệnh nhiễm trùng ở nông thôn có liên quan đến nguồn nước bị nhiễm VSV như các bệnh do virus, giun sán, côn trùng, bệnh tả, lỵ trực khuẩn, thương hàn, tiêu chảy, các bệnh ngoài da, bệnh mắt… Nguyên nhân chủ yếu do nông dân chưa có thói quen vệ sinh chuồng trại chăn nuôi, khử trùng tiêu độc, nguồn phân và nước thải có mặt ở khắp mọi nơi. Nông dân còn quen sử dụng phân tươi, thuốc trừ sâu độc hại mà không sử dụng đúng cách, liều lượng và loại thuốc phù hợp. Còn chưa cách ly khu chăn nuôi, trồng trọt, vệ sinh ra xa nhà ở, bếp, sân chơi… Hệ thống thoát nước đơn giản, gần như không xử lý được các chất thải lỏng.

Toàn bộ bụi các khí độc hại CO, CO 2, SO 2… phun ra từ các làng nghề đun đốt lò thủ công đều không hề được xử lý. Tiếng đập, tiếng gõ và muôn vàn tiếng động cơ nhỏ khác cứ rầm rầm, rào rào như muốn làm rách toạc cái không khí mà xưa còn yên ả của các làng nghề chế tạo công cụ, gốm, sứ, giết mổ….

Chăn nuôi là ngành có nhiều chất thải gây ô nhiễm môi trường không khí ở nông thôn. Trong tổng số metan do chăn nuôi thải ra trên thế giới 74% sản sinh từ bò, 4,38% từ trâu, 5,1% từ dê, cừu, còn lại là từ các vật nuôi khác. Việt Nam chăn nuôi bò đang chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chăn nuôi đại gia súc (5,54 triệu con), trâu (2,9 triệu con), dê và cừu (1,3 triệu con) nên lượng khí thải từ chăn nuôi đại gia súc cũng khá lớn trong khi việc dùng chế phẩm giảm ô nhiễm trong chăn nuôi, sử dụng các vắc xin ức chế loại vi khuẩn gây khí mêtan trong dạ cỏ gia súc nhai lại, các loại máy OZON làm sạch không khí trong các cơ sở chăn nuôi… còn rất ít ỏi. Ngoài các khí thải ô nhiễm do sinh lý vật nuôi gây ra (hô hấp, tiêu hoá, kêu, rống…) còn lượng khí thải (NO, CO 2, CH 4) từ đất trồng lúa (0,8 g CH 4/m 2/ngày), cỏ (142pg NO/m 2/giờ), hoa màu, đốt rơm, rác… Các loại khí gây hiệu ứng nhà kính chủ lực này đều chưa có biện pháp xử lý.

Trong khi đàn gia súc luôn thiếu thức ăn thô xanh vào mùa khô và thức ăn còn nghèo đạm làm tăng năng suất, chất lượng thịt, sữa chỉ nhích được một tý một thì cả một nguồn thụ phẩm công, công nghiệp như vỏ bã dứa, vỏ và thịt quả cà phê, thịt quả giả của điều, máu, xương, lông vũ… còn đang rất lãng phí, thải đống hoặc xả vào hệ sinh thái trong làng, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng.

Hệ sinh thái nông nghiệp và giống cây trồng, vật nuôi truyền thống bị suy giảm. Diện tích trồng các giống lúa địa phương giảm 50%, số lượng trồng lúa địa phương bị mất 80%. Đối với các loại ngô, đậu đỗ, các con số tương ứng là 75%, 50%, cây có củ mất đi là 75%, chè mất khoảng 20% các loại giống, đay là 90% và cây ăn quả là 50%. Nhiều giống vật nuôi của Việt Nam đã bị mất hoặc bị suy giảm hoặc bị lai tạp như lợn Ỉ Mơ, lợn Lang hồng, lợn Phú Khánh, lợn cỏ, lợn Sơn Vi, gà Vân Phú, lợn Ba Xuyên, gà Hồ, chó Phú Quốc, vịt mốc…

Nông nghiệp Việt Nam chắc chắn tiếp tục phát triển với tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá mạnh mẽ. Để khắc phục các hậu quả môi trường và phát triển bền vững cho nền nông nghiệp cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn và giám sát việc thực hiện Luật môi trường. Trồng trọt và chăn nuôi thâm canh, theo hướng tập trung trên nền tảng môi trường đã được quy hoạch và thiết kế phù hợp với từng địa phương. Khuyến khích trồng trọt và đặc biệt là chăn nuôi theo hướng đặc sản để bảo vệ nguồn gen nội địa, khai thác lợi thế vùng, xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam một cách an toàn và tăng tính cạnh tranh trong xu thế hội nhập.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.