Bàn về chứng sang dương hay gặp trong mùa hè
1. Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh
Nguyên nhân gây bệnh có thể là ngoại cảm lục dâm (phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả), độc tà (các loại tụ cầu khuẩn vàng, liên cầu khuẩn, trực khuẩn lao...), do nội thương (tổn thương tình chí), ăn uống không điều độ, phòng dục, lao động quá sức, bệnh tật lâu ngày, do chấn thương, trùng thú căn, nhiễm độc, bỏng...
Bất kỳ nguyên nhân nào đều có thể gây nên phản ứng tại chỗ (ngoài da) như sưng, nóng, đỏ, đau (thấp nhiệt thịnh) hoặc sưng đau (hàn thấp), do khí huyết ngưng trệ, kinh lạc bế tắc. Trường hợp có thể suy nhược, không đủ sức chống lại tà khí, khí huyết tích tụ lâu ngày hoá nhiệt, tổ chức da, cơ tổn thương sinh mủ (tổn thương). Hoặc độc tà theo đường kinh mạch nội công vào các tạng phủ, gây rối loạn chức năng tạng phủ mà xuất hiện các phản ứng toàn thân. Trường hợp nhẹ có các triệu chứng sốt, khát nước, táo bón, tiểu ít, vàng. Nặng hơn xuất hiện người bứt rứt, buồn nôn, nói sảng, hôn mê, đó là chứng thực nhiệt thường gặp trong các bệnh ung, thư, đinh, nhọt. Còn các chứng hư thường biểu hiện người mệt mỏi, sút cân, chán ăn, sốt nhẹ kéo dài, ra mồ hôi trộm, tổn thương chảy mủ khó liền miệng, bệnh kéo dài như trường hợp các lệnh loa lịch (lao hạch), lưu đàm (lao xương) do tinh khí tạng phủ bị tổn thương, khí âm đều hư.
2. Biện chứng luận trị chung
* Biện chứng sang dương cũng như biện chứng bệnh nội khoa, chủ yếu vận dụng tứ chẩn bát cương nhưng có mặt khác là ngoài việc biện chứng toàn thân, còn cần chú ý đến bệnh lý tại chỗ như sưng, nóng, đỏ, đau, làm mủ, lở loét kéo dài, hình dáng, màu sắc thay đổi của da... Đó chính là đặc điểm của biện chứng sang dương.
- Biện chứng tại chỗ: phân biệt dương chứng (áp xe nóng có triệu chứng ở giai đoạn đầu là sưng, nóng, đỏ, đau) nguyên nhân thường là do nhiễm độc tà mạnh gây tổn thương làm mủ (như tụ cầu vàng, liên cầu là nhiều nhất, một số do phế cầu) và âm thư (áp xe lạnh như: loa lịch, lưu đàm...) ở giai đoạn đầu thường là một khối u cứng, không có sưng nóng đỏ đau. Nhưng vẫn còn có một số nhọt tại chỗ đau nhưng da bình thường không có sưng nóng đỏ như bắp chuối (loại áp xe sâu và viêm cơ đáy chậu), phụ cốt thư (viêm xương tuỷ). Còn các loại âm chứng như loa lịch, lưu đàm tuỳ thuộc.
- Biện chứng toàn thân: thông thường nếu nhiệt độc thịnh thì triệu chứng lâm sàng dữ đội như sốt cao, khát nước, đau đầu, đại tiện táo bón, bứt rứt hôn mê nói sảng, mạch hồng đại có lực, lưỡi đỏ thẫm là trạng thái bệnh rất nặng. Nhưng ở người bệnh cơ thể suy nhược, người già hoặc trẻ em suy dinh dưỡng, phản ứng của cơ thể yếu thì triệu chứng toàn thân lại không rõ.
* Biện chứng sang dương cần chú ý các mặt sau:
- Vị trí bệnh: nhọt ở vùng mông, lưng bàn chân rất đau, đi lại khó khăn. Nhọt mọc ở vùng gáy, bờ mi dễ tái phát. Nhọt mọc quanh môi và cánh mũi dễ gây nguy cơ nhiễm trùng huyết...
- Điều kiện người bệnh: sức khoẻ tốt, dinh dưỡng tốt, sinh hoạt, lao động đúng mức điều độ, tinh thần thoải mái, bệnh chóng khỏi. Bệnh nhân cơ thể suy sụp, mắc bệnh tiêu khát, điều kiện dinh dưỡng kém, sinh hoạt, lao động nhiều, tinh thần luôn căng thẳng bệnh kéo dài khó khỏi, có khi gây biến chứng nguy hiểm.
3. Phương pháp điều trị chung
* Thuốc uống trong: Sự phát triển của sang dương thường qua 3 thời kỳ: sơ kỳ (sưng đau), trung kỳ (làm mủ), hậu kỳ (vỡ mủ).
- Sơ kỳ thì dùng phép tiêu để tiêu tán tà khí.
- Trung kỳ làm mủ không vỡ hoặc chảy mủ không thông, dùng phép thác độc bài nùng.
- Vào thời hậu kỳ mủ độc đã ra hết nhưng cơ thể suy nhược, dùng phép bổ để hồi phục chính khí để chóng lành miệng.
* Thuốc và phương pháp điều trị ngoài: theo ba thời kỳ mà dùng phép điều trị khác nhau.
- Sơ kỳ: giải độc tiêu sưng, dùng thuốc đắp, thuốc cao, thuốc mỡ.
- Trung kỳ: nếu mủ đã chín nhìn thấy đầu mụn trắng, xung quanh màu đỏ hơi thâm có thể có ít nếp nhăn seo, dùng kim chích mủ hoặc rạch da tháo mủ.
- Hậu kỳ: khứ hủ sinh cơ. Tuỳ tình hình bệnh lý mà dùng thuốc rửa, thuốc bôi, thuốc đắp.
Nguồn: T/c Đông y, số 351,25/7/2003, tr 10







