Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 03/02/2010 18:05 (GMT+7)

Bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử

Bằng các cứ liệu không phải là phát hiện mới, chỉ với sự phân tích lại, dưới cái nhìn của phương pháp phân kỳ, tác giả đã đưa ra những cái nhìn mới, đặt lại những vấn đề tưởng chừng đã cũ và mở ra nhiều hướng tiếp cận rất bất ngờ trong công tác nghiên cứu lịch sử, bản sắc văn hoá vùng đất thuộc “xứ Đàng Trong” xưa. Tạp chí Xưa & Nayxin giới thiệu với bạn đọc chương “Hoà nhập hay tiếp biến” trong cuốn sách này.

Dấu vết văn hoá Chăm còn để lại trong đời sống người Việt ở Quảng Nam hiện nay là rất nhiều. Có thể dẫn ra đây rất nhiều những công trình, những bài viết được in trong các tạp chí địa phương hoặc được đọc trong các cuộc hội thảo về văn hoá và lịch sử ở các tỉnh miền Trung. Các dấu hiệu, hay nói cách khác là các bằng chứng, thường được nhiều người nói đến và đã hầu như được công nhận là của người Chăm mà không cần bàn cãi thêm là tục thờ cúng cá ông và các lễ hội miền biển, những miếu bà Giàng, bà Lồi, các nữ thần Chăm như Bà Thu Bồn, Thiên Y A Na Diễn phi chúa ngọc, Phiếm Ái châu đại đức phu nhân; ghe bầu, làm nhà trên cọc của các cư dân sông nước, mùa chiêm và lúa chiêm, cái cày Trung bộ, ăn gỏi, đội khăn, bới tóc, các giếng vuông vẫn đang được dùng ở một số nơi; một số phong tục tập quán trong cúng đất, cúng giỗ ma chay, các làn điệu dân ca, hát ru… Dĩ nhiên chúng ta có thể bảo tất cả những hiện tượng văn hoá truyền thống nào của người Quảng Nam nhưng ngoài Bắc không có đều là của người Chăm để lại và con số thống kê có thể kéo dài mãi một cách vô nghĩa nếu như ta không nhận thấy ở đây cái tiến trình hình thành bán ắc mang trong nó những bí ẩn đang cần được giải thích, chứ không phải chỉ là những hiện tượng đáng được ghi nhận.

Sự giao thoa hai nền văn hoá Việt – Chăm trước nay vẫn thường được các nhà nghiên cứu thích dùng từ tiếp thu văn hoá, giai đoạn gần đây xuất hiện thêm thuật ngữ tiếp biến văn hoáđể nhấn mạnh hơn sự tồn tại rất cụ thể, cóphần nguyên gốc của các yếu tố Chăm nhằm phản ánh một xã hội người Việt đã tiếp thu, kế thừa, tiếp nhận và thích nghi nhiều yếu tố văn hoá Chăm trong một quá trình vay mượn có chọn lọc cái mới. Nổibật trong số này là luận án tiến sĩ Xứ Đàng Trongcủa Li Tana. Li Tana đã đánh giá sự tiếp biếnnày là vô cùng quantrọng và lần đầu tiên trong giới nghiên cứu, chị đã đề cập nó ở góc độ bản sắc văn hoá người Việt hiện nay: “Tác động qua lại phong phú này cuối cùng đã cho ra đời một ý thức về bản sắc Việt Nam, cắmrễ sâu trong môi trường xã hội, văn hoá và tự nhiên của vùng đất mới phương Nam. Các di dân người Việt đã bỏ lại phía sau nơi chôn nhau cắt rốn của họ và giờ đây thường phải sống thành những nhóm nhỏtrong vùng đất của người Chăm cũ, hẳn là đã cảm thấy nền văn hoá Chăm vừa có những nét đẹp riêng vừa xa lạ khiến người ta phải e dè. Trong một trạng thái tâm lý bất ổn, người Việt vừa bị lôi cuốnnhưng đồng thời lại cũng cố gắng tìm cách thoát khỏi (hay thu phục khi có thể) nền văn hoá xa lạ đã có ở đó trước khi họ đến và thường là vẫn còn bao quanh họ” (1). Li Tana đã dừng lại ở đó và khôngkhảo sát thêm là những nhóm nhỏ người Việt trong vùng đất của người Chăm cũ ấy họ đã tiếp thu cái văn hoá Chăm ấy từ đâu, từ những người Chăm cụ thể hay từ những dấu vết họ để lại. Chị đã cảm nhậnthấy cái văn hoá ấy vẫn bao quanh họ thế nhưng cái bao quanh ấy không hề được mô tả bất cứ dòng nào trong luận án mặc dù nó xứng đáng được đầu tư nhiều hơn nữa. “Phía nam có nghĩa là một môi trườngcó nhiều khả năng để chọn lựa, là không gian để rèn luyện và phát triển những yếu tố kinh tế, xã hội và văn hoá mới khá xa với những chờ đợi chật hẹp trong khuôn khổ Nho giáo. Việc chấp nhận là mộtthành phần của một thế giới Đông Nam Á rộng lớn hơn đã giúp cho các di dân người Việt có khả năng vay mượn, trộn lẫn và hấp thụ một cách rộng rãi các yếu tố vănhoá người Chămvà của các dân tộc khác trong vùng. Và kết quả là trong quá trình dài tiến về phía Nam, chính người Việt Nam đã được địa phương hoá. Nhưng nói thế không có ý nói là người Việt Nam ởĐàng Trong đã không còn là người Việt Nam nữa hay đã đánh mất bản sắc của họ. Phải hơn, họ đã tạo ra ở đây một cách thức khác làm người Việt Nam, một cách thức nảy sinh từ một thái độ sẵn sàng kinhqua, chấp nhận và tiếp biến những gì hữu ích trong môi trường mới,bất luận từ đâu đến… Nhiều đức tính của người phía Nam như óc tò mò và cởi mở đối vớinhững cái mới, với những tư tưởng mới, tính hồn nhiên và khoáng đạt hơn, thái độ không mấy dễ dàng để mình bị ràng buộc bởi lịch sử và truyền thống, tất cả có thể đã do ảnh hưởng của hai thế kỷ dướithời của các Chúa Nguyễn này” (2).

Đánh giá cao sự tiếp biến, theo nghĩa tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá Chăm, Li Tana vẫn cứ thiếu sót khi một mực bảo rằng đó là sự tiếp thu đưa đến tiếp biến, ngoài ra không có gì khác. Đây gần như là một quan điểm chính thống và đã được hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như hầu hết những người quan tâm đến các vấn đề Xứ Đàng Trong và các tộc họ chấp nhận như là một sự thật hiển nhiên. Đó là sự tiếp thu một chiều, người Việt tiếp thu văn hoá người Chăm rồi biến nó thành văn hoá Việt, văn hoá xứ Quảng, hay nói cách khác văn hoá Việt đã được khoác lên mình chiếc áo mới rộng rãi hơn, tươi tắn, năng động hơn và vì thế ở góc độ nào thì nó cũng là da thịt Việt, con người Việt. Có phải sự thật như vậy hay sự việc đã diễn ra một cách phức tạp, đa chiều hơn? Có qua ít tư liệu để chúng ta có thể dựng lại những gì đã xảy ra, để có thể tường tận những bước phát triển, những chặng đường mà người xứ Quảng đã trải qua để hình thành nên người xứ Quảng hôm nay, tuy vậy chúng tôi vẫn tin rằng không phải là không có thể.

Thiếu những viên đá đặt nền móng ban đầu về một lịch sử Xứ Đàng Trong gợi mở sự hình dung những quá trình tiếp biến, các công trình nghiên cứu đều hầu như mặc nhiên công nhận con đường thẳng của Lịch sử Nam tiến.Điển hình của quan niệm này là ý kiến sau đây, mặc dầu thời gian nó được viết đã gần cuối năm 2002: “ Có thể nghĩ rằng vào thời kỳ này, thế kỷ XV, người Chăm đã rút về phần đất phía nam với kinh đô Vijava, chỉ còn một bộ phận làm quân canh giữ biên giới, để đất cho người Việt di cư đến tiếp quản”,

Không hiểu tại sao cái quan điểm ấy lại được chấp nhận một cách dai dẳng và hầu như không thể thay đổi mặc dù chỉ với một câu hỏi “ con người ta có thể tiếp thu cái gì ở chỗ không người?”, nó đã bộc lộ ra tất cả mâu thuẫn không thể tự giải thích. Con người ta không thể tiếp thu bất cứ thứ gì ở chỗ trống không, người Việt không thể tiếp thu hoặc tiếp biến bất cứ điều gì nếu người Chăm đều bỏ đi cả, hoặc giả cứ gặp họ là đuổi đánh, khinh khi, khinh bỉ. Ngay cả trong trường hợp họ có ở lại thì người Việt tiếp thu cái gì nếu họ là số ít, ngay cả trong trường hợp họ là số nhiều thì cũng tiếp thu cái gì trong khi vẫn xem họ là mọi? (4).

Cái môi trường để nền văn hoá này tiếp thu nền văn hoá kia là điều chẳng phải dễ có. Nó chỉ hình thành trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Người Việt khinh người Chăm, miệt thị người Chăm thì sẽ tiếp thu cái gì ở họ? Mà cái tiếp thu được thì như đã nói ở trên là nhiều lắm. Hơn nữa, lịch sử nhân loại cho thấy một nền văn minh cao hơn sẽ luôn có tác dụng áp đặt, đồng hoá nền văn minh thấp hơn. La Mã mạnh hơn nhưng khi xâm chiếm Hy Lạp thì hoàn toàn bị ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp. Mông Cổ rồi sau này Mãn Thanh, khi thôn tính Trung Hoa đều bị nền văn minh khổng lồ này đồng hoá. Vậy trong trường hợp 300 năm Việt - Chăm trên đất Quản Nam thì cái gì đồng hoá cái gì, cái gì tác động lên cái gì và cái gì chiếm ưu thế?

Trở lại với những lập luận trên ta thấy người Việt sẽ không bao giờ chịu tiếp thu bất cứ điều gì bởi luôn tự hào mình có nền văn minh cao hơn. Trong Chiếu bình Chiêmcủa Lê Thánh Tôn đã cho thấy một sự miệt thị văn hoá Chămpa và trong văn bản đều luôn xem họ là người man di, mọi rợ. Sự tiếp thu và tiếp biến chỉ diễn ra khi người Việt đối diện với nền văn minh cao hơn. Xem họ là mọi thì tiếp thu cái gì? Vì vậy lập luận hữu lý nhất ở đây chính là giả thiết cho rằng người Chăm ở lại là số đông. Người Việt đến chìm lấp trong cộng đồng người Chăm. Sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam và thiết lập nên nền chính trị tập quyền thì họ mang nguyên nền văn hoá của mình khi bắt buộc mang họ Việt, chuyển thành người Việt bằng cách nói tiếng Việt và quên dần gốc gác.

Cái sự quên dần gốc gác này cũng đã diễn ra một cách phức tạp khó tìm ra căn nguyên thật sự. Giả định đặt ra là người Việt khi mạnh lên và nắm toàn bộ quyền lực, bắt người Chăm mang họ Việt, bắt họ nói tiếng Việt đồng thời hình thành trong xã hội một cái nhìn miệt thị với người Chăm, xem họ là “mọi” đã khiến những người Chăm cảm thấy sự quên đi gốc gác sẽ khiến họ dễ sống, được tôn trọng hơn, cũng là điều hợp logic.

Vì vậy, cố gắng dựng lại cái mô hình xã hội cho phép hình dung nên cái cộng đồng cộng cư của hai nền văn hoá Việt – Chăm cũng như quá trình giao lưu và hoà nhập cũng như tiếp biến của hai nền văn hoá này ở Quảng Nam những năm trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam là một công việc cực kỳ quan trọng, đó không chỉ là sự nhìn nhận lại lịch sử một cách chính xác đầy đủ hơn mà đó còn là sự tìm lại gốc gác, căn nguyên hình thành của một bản sắc văn hoá có tính cội nguồn của phương Nam, một nửa của đất nước.

Chú thích

1. Li Tana,Xứ Đàng Trong, tr 193.

2. Li Tana, sđd, tr 217.

3.Bối cảnh lịch sử của quá trình người Việt di cư vào vùng đất Quảng Nam của tiến sĩ Trần Hữu Đính, Viện Sử học Việt Nam đọc tại hội thảo Dinh Trấn Thanh Chiêm, Tam Kỳ, Quảng Nam, tháng 9 - 2002.

4. Bài văn tế cúng đất có câu “ma Lồi, ma Lạc, ma Chàm, ma Chợ, ma mọi, ma rợ…” xếp người Chăm vào cùng loại với tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì tổ chức họp các đoàn dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI
Căn cứ Thông tri số 10/TT-MTTQ-UB của Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về việc triệu tập đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ XI, với vai trò là Trưởng các Đoàn của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức Liên hiệp, Liên hiệp Hội Việt Nam đã chủ trì tổ chức họp các đoàn để triển khai thực hiện thông tri của MTTQ Việt Nam.
Thủ tướng Lê Minh Hưng lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Philippines
Nhận lời mời của Tổng thống nước Cộng hòa Philippines Ferdinand Romualdez Marcos Jr, Chủ tịch ASEAN năm 2026, ngày 7/5, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Lê Minh Hưng dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam lên đường tham dự Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 48 tại Cebu, Philippines từ ngày 7 đến 8/5/2026.
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam: Điểm tựa khoa học công nghệ gắn với chuyển đổi số quốc gia
Hội Vô tuyến - Điện tử Việt Nam với gần 40 năm phát triển đang thể hiện rõ vai trò tổ tổ chức xã hội - nghề nghiệp uy tín trong lĩnh vực vô tuyến, điện tử, viễn thông, công nghệ thông tin đồng thời đóng góp thực chất vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị.
Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.