Bản sắc Quảng Nam từ góc nhìn phân kỳ lịch sử
Bằng các cứ liệu không phải là phát hiện mới, chỉ với sự phân tích lại, dưới cái nhìn của phương pháp phân kỳ, tác giả đã đưa ra những cái nhìn mới, đặt lại những vấn đề tưởng chừng đã cũ và mở ra nhiều hướng tiếp cận rất bất ngờ trong công tác nghiên cứu lịch sử, bản sắc văn hoá vùng đất thuộc “xứ Đàng Trong” xưa. Tạp chí Xưa & Nayxin giới thiệu với bạn đọc chương “Hoà nhập hay tiếp biến” trong cuốn sách này.
Dấu vết văn hoá Chăm còn để lại trong đời sống người Việt ở Quảng Nam hiện nay là rất nhiều. Có thể dẫn ra đây rất nhiều những công trình, những bài viết được in trong các tạp chí địa phương hoặc được đọc trong các cuộc hội thảo về văn hoá và lịch sử ở các tỉnh miền Trung. Các dấu hiệu, hay nói cách khác là các bằng chứng, thường được nhiều người nói đến và đã hầu như được công nhận là của người Chăm mà không cần bàn cãi thêm là tục thờ cúng cá ông và các lễ hội miền biển, những miếu bà Giàng, bà Lồi, các nữ thần Chăm như Bà Thu Bồn, Thiên Y A Na Diễn phi chúa ngọc, Phiếm Ái châu đại đức phu nhân; ghe bầu, làm nhà trên cọc của các cư dân sông nước, mùa chiêm và lúa chiêm, cái cày Trung bộ, ăn gỏi, đội khăn, bới tóc, các giếng vuông vẫn đang được dùng ở một số nơi; một số phong tục tập quán trong cúng đất, cúng giỗ ma chay, các làn điệu dân ca, hát ru… Dĩ nhiên chúng ta có thể bảo tất cả những hiện tượng văn hoá truyền thống nào của người Quảng Nam nhưng ngoài Bắc không có đều là của người Chăm để lại và con số thống kê có thể kéo dài mãi một cách vô nghĩa nếu như ta không nhận thấy ở đây cái tiến trình hình thành bán ắc mang trong nó những bí ẩn đang cần được giải thích, chứ không phải chỉ là những hiện tượng đáng được ghi nhận.
![]() |
Đánh giá cao sự tiếp biến, theo nghĩa tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá Chăm, Li Tana vẫn cứ thiếu sót khi một mực bảo rằng đó là sự tiếp thu đưa đến tiếp biến, ngoài ra không có gì khác. Đây gần như là một quan điểm chính thống và đã được hầu hết các nhà nghiên cứu cũng như hầu hết những người quan tâm đến các vấn đề Xứ Đàng Trong và các tộc họ chấp nhận như là một sự thật hiển nhiên. Đó là sự tiếp thu một chiều, người Việt tiếp thu văn hoá người Chăm rồi biến nó thành văn hoá Việt, văn hoá xứ Quảng, hay nói cách khác văn hoá Việt đã được khoác lên mình chiếc áo mới rộng rãi hơn, tươi tắn, năng động hơn và vì thế ở góc độ nào thì nó cũng là da thịt Việt, con người Việt. Có phải sự thật như vậy hay sự việc đã diễn ra một cách phức tạp, đa chiều hơn? Có qua ít tư liệu để chúng ta có thể dựng lại những gì đã xảy ra, để có thể tường tận những bước phát triển, những chặng đường mà người xứ Quảng đã trải qua để hình thành nên người xứ Quảng hôm nay, tuy vậy chúng tôi vẫn tin rằng không phải là không có thể.
Thiếu những viên đá đặt nền móng ban đầu về một lịch sử Xứ Đàng Trong gợi mở sự hình dung những quá trình tiếp biến, các công trình nghiên cứu đều hầu như mặc nhiên công nhận con đường thẳng của Lịch sử Nam tiến.Điển hình của quan niệm này là ý kiến sau đây, mặc dầu thời gian nó được viết đã gần cuối năm 2002: “ Có thể nghĩ rằng vào thời kỳ này, thế kỷ XV, người Chăm đã rút về phần đất phía nam với kinh đô Vijava, chỉ còn một bộ phận làm quân canh giữ biên giới, để đất cho người Việt di cư đến tiếp quản”,
Không hiểu tại sao cái quan điểm ấy lại được chấp nhận một cách dai dẳng và hầu như không thể thay đổi mặc dù chỉ với một câu hỏi “ con người ta có thể tiếp thu cái gì ở chỗ không người?”, nó đã bộc lộ ra tất cả mâu thuẫn không thể tự giải thích. Con người ta không thể tiếp thu bất cứ thứ gì ở chỗ trống không, người Việt không thể tiếp thu hoặc tiếp biến bất cứ điều gì nếu người Chăm đều bỏ đi cả, hoặc giả cứ gặp họ là đuổi đánh, khinh khi, khinh bỉ. Ngay cả trong trường hợp họ có ở lại thì người Việt tiếp thu cái gì nếu họ là số ít, ngay cả trong trường hợp họ là số nhiều thì cũng tiếp thu cái gì trong khi vẫn xem họ là mọi? (4).
Cái môi trường để nền văn hoá này tiếp thu nền văn hoá kia là điều chẳng phải dễ có. Nó chỉ hình thành trên sự bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau ở một mức độ nào đó. Người Việt khinh người Chăm, miệt thị người Chăm thì sẽ tiếp thu cái gì ở họ? Mà cái tiếp thu được thì như đã nói ở trên là nhiều lắm. Hơn nữa, lịch sử nhân loại cho thấy một nền văn minh cao hơn sẽ luôn có tác dụng áp đặt, đồng hoá nền văn minh thấp hơn. La Mã mạnh hơn nhưng khi xâm chiếm Hy Lạp thì hoàn toàn bị ảnh hưởng của văn minh Hy Lạp. Mông Cổ rồi sau này Mãn Thanh, khi thôn tính Trung Hoa đều bị nền văn minh khổng lồ này đồng hoá. Vậy trong trường hợp 300 năm Việt - Chăm trên đất Quản Nam thì cái gì đồng hoá cái gì, cái gì tác động lên cái gì và cái gì chiếm ưu thế?
Trở lại với những lập luận trên ta thấy người Việt sẽ không bao giờ chịu tiếp thu bất cứ điều gì bởi luôn tự hào mình có nền văn minh cao hơn. Trong Chiếu bình Chiêmcủa Lê Thánh Tôn đã cho thấy một sự miệt thị văn hoá Chămpa và trong văn bản đều luôn xem họ là người man di, mọi rợ. Sự tiếp thu và tiếp biến chỉ diễn ra khi người Việt đối diện với nền văn minh cao hơn. Xem họ là mọi thì tiếp thu cái gì? Vì vậy lập luận hữu lý nhất ở đây chính là giả thiết cho rằng người Chăm ở lại là số đông. Người Việt đến chìm lấp trong cộng đồng người Chăm. Sau khi Nguyễn Hoàng vào Nam và thiết lập nên nền chính trị tập quyền thì họ mang nguyên nền văn hoá của mình khi bắt buộc mang họ Việt, chuyển thành người Việt bằng cách nói tiếng Việt và quên dần gốc gác.
Cái sự quên dần gốc gác này cũng đã diễn ra một cách phức tạp khó tìm ra căn nguyên thật sự. Giả định đặt ra là người Việt khi mạnh lên và nắm toàn bộ quyền lực, bắt người Chăm mang họ Việt, bắt họ nói tiếng Việt đồng thời hình thành trong xã hội một cái nhìn miệt thị với người Chăm, xem họ là “mọi” đã khiến những người Chăm cảm thấy sự quên đi gốc gác sẽ khiến họ dễ sống, được tôn trọng hơn, cũng là điều hợp logic.
Vì vậy, cố gắng dựng lại cái mô hình xã hội cho phép hình dung nên cái cộng đồng cộng cư của hai nền văn hoá Việt – Chăm cũng như quá trình giao lưu và hoà nhập cũng như tiếp biến của hai nền văn hoá này ở Quảng Nam những năm trước khi Nguyễn Hoàng vào Nam là một công việc cực kỳ quan trọng, đó không chỉ là sự nhìn nhận lại lịch sử một cách chính xác đầy đủ hơn mà đó còn là sự tìm lại gốc gác, căn nguyên hình thành của một bản sắc văn hoá có tính cội nguồn của phương Nam, một nửa của đất nước.
Chú thích
1. Li Tana,Xứ Đàng Trong, tr 193.
2. Li Tana, sđd, tr 217.
3.Bối cảnh lịch sử của quá trình người Việt di cư vào vùng đất Quảng Nam của tiến sĩ Trần Hữu Đính, Viện Sử học Việt Nam đọc tại hội thảo Dinh Trấn Thanh Chiêm, Tam Kỳ, Quảng Nam, tháng 9 - 2002.
4. Bài văn tế cúng đất có câu “ma Lồi, ma Lạc, ma Chàm, ma Chợ, ma mọi, ma rợ…” xếp người Chăm vào cùng loại với tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội.









