Bản sắc dân tộc và tính hiện đại trong quy hoạch, kiến trúc đô thị, nông thôn
Trên thế giới, việc giữ gìn bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường bền vững đã được quan tâm đặc biệt.
Trong lĩnh vực quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn, việc giữ gìn, phát triển văn hoá không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ, tôn tạo, phục hồi các khu vực và công trình có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, kiến trúc, cảnh quan thiên nhiên, mà cần phải có các giải pháp quy hoạch phù hợp với phong tục tập quán tiến bộ có tính truyền thống, với thời tiết, khí hậu, địa hình và các biện pháp bảo vệ môi trường bền vững của từng quốc gia, từng vùng khác nhau.
Qua thực tiễn của nhiều nước trên thế giới, ta thấy rằng: bất kỳ quốc gia nào, việc bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc đã góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, và ngược lại, việc phát triển nền kinh tế của mỗi nước đã tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển nền văn hoá của mỗi quốc gia. Để thực hiện gắn bó giữa 2 yếu tố kinh tế và văn hoá của mỗi quốc gia, công tác quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn giữ một vai trò quan trọng, là “nhịp cầu” gắn kết chặt chẽ giữa yêu cầu phát triển kinh tế và bảo vệ, phát triển truyền thống văn hoá dân tộc. Có thể nói: kinh tế và văn hoá có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ với nhau. Yếu tố này là tiền đề, là mục tiêu, thì yéu tố kia là động lực, là nội dung phát triển và ngược lại… Sự lao động cần cù và trí thông minh sáng tạo của cha ông ta đã tạo cho đất nước ta có nhiều khu vực và công trình di tích lịch sử văn hoá, cách mạng, nghệ thuật, kiến trúc có giá trị như: đền Hùng, Cổ Loa, Văn Miếu, Đình Bảng, Pắc Bó, Kim Liên, thành cổ Quảng Trị, lăng tẩm và Kinh thành Huế, tháp Chàm Phan Rang, địa đạo Củ Chi, bến nhà Rồng, đường mòn Hồ Chí Minh, phố cổ Hội An… Đặc biệt hệ thống đình chùa, đền thờ, tháp, miếu, thành luỹ của nước ta được phân bố khắc các đô thị, nông thôn trong cả nước. Nhiều di tích và cảnh quan nước ta đã và đang được Liên hợp quốc nghiên cứu, công nhận danh mục các di sản văn hoá Việt Nam đóng góp vào quỹ di sản văn hoá nhân loại như: vịnh Hạ Long, Kinh thành Huế, phố cổ Hội An, phố cổ Hà Nội, di tích Mỹ Sơn… Trong kiến trúc xây dựng, phải nói rằng cha ông ta qua nhiều thế hệ nối tiếp đã đúc kết nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc hoạch định các quần cư đô thị - nông thôn, xây dựng nhà ở, xây dựng các công trình đình chùa, miếu mạo khá hợp lý trong từng điều kiện khí hậu, địa hình và phù hợp với nếp sống của từng vùng và từng khu vực khác nhau. Ngôi nhà sàn của đồng bào miền núi vừa phù hợp với địa hình và cảnh quan thiên nhiên, vừa tránh được khí hậu ẩm ướt của núi rừng, tránh được nguy cơ của ác thú, đồng thời thuận tiện trong sinh hoạt đời sống gia đình. Ngôi nhà ở chung cho 3 – 4 thế hệ, thể hiện sự đùm bọc, yêu thương lẫn nhau, tạo điều kiện cho cha mẹ, ông bà chăm sóc, giáo dục con cái, cháu chắt và sự chăm sóc hiếu thảo, tận tình của con cháu với cha mẹ, ông bà… Một số nước châu Âu, trong quy hoạch dân cư, đã mắc phải sai lầm trong việc tạo ra những khu ở dành cho người già, người hưu. Ở đó, họ sống cô đơn, buồn tẻ, thiếu sự nương tựa đùm bọc của những người thân, tinh thần hao mòn sa sút bởi những tâm lý chờ đợi sự kết thúc của một đời người. Chính vì vậy, ngày nay những khu ở đó dần dần bị phá vỡ. Từ sau cách mạng Tháng Tám, Đảng và Chính phủ ta đã có nhiều chủ trương chính sách nhằm bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc của nước nhà. Chính đây là điều kiện thuận lợi để các nhà quy hoạch, kiến trúc, quản lý xây dựng có cơ sở trong việc nghiên cứu thực hiện “nhịp cầu” gắn kết giữa phát triển kinh tế với việc giữ gìn truyền thống bản sắc dân tộc và bảo vệ môi trường bền vững. Với sự quan tâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, công tác quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn đã đáp ứng được các yêu cầu cơ bản về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và gắn kết với việc giữ gìn và phát triển văn hoá. Bên cạnh đó, nhờ áp dụng những tiến bộ mới về khoa học, công nghệ, công tác quy hoạch, kiến trúc đô thị, nông thon đã có những bước phát triển mới, vừa phát huy được bản sắc dân tộc phong phú, đa dạng, hài hoà, vừa mang được tính hiện đại, tiên tiến. Chính vì vậy trong những năm gần đây, ở một số đô thị đã xuất hiện nhiều công trình xây dựng mới, có bố cục hài hoà với các di sản văn hoá, với địa hình cảnh quan thiên nhiên.
Nhưng do nhận thức của một số nhà quy hoạch, kiến trúc, quản lý xây dựng và quần chúng nhân dân còn có những hạn chế, do sự đòi hỏi bức bách của công tác xây dựng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng cao, mặt khác, khả năng tài chính của ta còn eo hẹp, nên đã dẫn đến những sai lầm đáng tiếc trong quy hoạch, kiến trúc, phát triển đô thị, nông thôn. Đó là sự xây dựng tự phát, lộn xộn đã và đang diễn ra ở một số địa bàn, gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường đô thị, nông thôn làm mất đi nét đẹp truyền thống của dân tộc. Trong những năm gần đây, ở một vài thành phố lớn, đây đó đã “mọc” lên những ngôi nhà “bê tông – kính” chọc trời, với hình khối khô cứng, xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân ta. Tệ hại nhất là cứ có chỗ nào trống là nhét nhà cao tầng vào đó, bất chấp cơ sở hạ tầng đã quá tải, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng. Lại có nhiều công trình lấn chiếm sâu vào các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng. Một hiện tượng khá phổ biến ở các đô thị là hàng loạt các “lô nhà ống” có chiều rộng mặt tiền trên dưới 3m đã đua nhau, chen chúc “mọc lên” bên những trục đường phố nhỏ hẹp, tấp nập xe cộ. Nhiều căn nhà bé nhỏ “núp” dưới những chiếc mũ “chóp” cao và nhọn, hoặc “củ hành”… được du nhập thiếu chọn lọc, thắt ngang lưng các công trình là các loại ban công, được trang điểm bởi những hoạ tiết rẻ tiền, kệch cỡm, màu sắc loè loẹt, không phù hợp với cảnh quan xung quanh. Phát triển theo kiểu “trăm hoa đua nở”, nhà cao, nhà thấp, nhà nhô ra, nhà thụt vào và đủ loại màu sắc… không tuân thủ theo một “quy luật kiến trúc” nào cả. Thời “mở cửa”, do giá đất ngày càng tăng, bất chấp cả luật lệ, quy chuẩn xây dựng đã ban hành, các “chủ đất” tận dụng các khoảng đất trống còn lại - lẽ ra dành cho vườn hoa, sân chơi, lại dùng để xây dựng khách sạn hoặc các công trình có lợi ích thiển cận hoặc riêng tư khác. Thậm chí ở một số đô thị, người ta đã xây dựng các công trình nhà ở trong những hành lang cách ly để bảo vệ các tuyến lưới điện cao thế, đường sắt, quốc lộ, đê điều; đè lên cả các công trình ngầm như ống dẫn dầu, cống thoát nước, đường ống cấp nước sinh hoạt… và kể cả việc xây dựng ngay trong sân của các công trình di tích như: đình, chùa, đền, miếu… Ở các đô thị lớn, một số xí nghiệp, công nghiệp gây ô nhiễm môi trường độc hại đáng lẽ phải di chuyển khỏi nội thị, nhưng vẫn còn tồn tại, “chung sống” với dân cư trong lòng thành phố. Mật độ xây dựng trong các khu dân cư ngày càng tăng, diện tích cây xanh ngày càng thu hẹp, “lá phổi xanh đô thị” đã đến lúc “nhiễm bệnh”. Trong lĩnh vực thiết kế công trình xây dựng, nhiều mẫu nhà ở, nhà công cộng kiểu đô thị, đồng bằng cũng dần dần xâm nhập về các làng xóm, thôn quê miền núi xa xôi, hẻo lánh. Có dịp nào đó, bạn đi trên một đường phố của một thị xã, thị trấn, vùng núi, bất chợt bạn có cảm giác đang đi giữa đường phố thủ đô… Nhằm khắc phục những tồn tại nêu trên và thực hiện sự kết hợp hài hoà giữa kinh tế và văn hoá, công tác quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn cần phải vươn lên và đi trước. Muốn vậy, các nhà quy hoạch, kiến trúc, quản lý xây dựng phải có sự tiếp thu, chọn lọc các kinh nghiệm và thành tựu khoa học tiên tiến trng nước và thế giới, nắm vững kiến trúc chuyên môn, chấp hành tốt các văn bản pháp quy có liên quan đến quy hoạch và xây dựng, đặc biệt phải nâng cao nhận thức tư tưởng, thấu triệt đường lối của Đảng ta về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, đi sâu nắm bắt thực tiễn, dầy công nghiên cứu, tìm hiểu truyền thống văn hoá dân tộc và đưa nội dung “xã hội học” vào lĩnh vực nghiên cứu, quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn. Tổng kết hội nghị bàn về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nhấn mạnh: “… Sự nghiệp văn hoá không tiến hành riêng rẽ, mà nhuần nhuyễn thống nhất, quyện chặt với kinh tế, xã hội, quân sự, đối ngoại, an ninh, thấm sâu vào mọi hoạt động hàng ngày, ở mỗi con người, ở mỗi lứa tuổi, mọi gia đình, mọi cơ sở, ở tất cả các môi trường xã hội và thiên nhiên…”. Đồng chí còn nhắc nhở: “Các nhà văn hoá, các nhà trí thức trong tất cả các lĩnh vực giáo dục, khoa học, y tế, xây dựng, kiến trúc, sáng tạo nghệ thuật… có vị trí rất quan trọng trong nhiệm vụ cao cả, gieo trồng và sáng tạo những giá trị văn hoá mới của dân tộc”. Mong rằng tất cả chúng ta, những người làm công tác quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn hãy làm hết sức mình để đẩy mạnh công tác kiến trúc quy hoạch phát triển đô thị, nông thôn ở thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng đất nước ta ngày càng giàu - đẹp – văn minh - đạm đà bản sắc dân tộc.
|

Qua thực tiễn của nhiều nước trên thế giới, ta thấy rằng: bất kỳ quốc gia nào, việc bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc đã góp phần tích cực thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, và ngược lại, việc phát triển nền kinh tế của mỗi nước đã tạo điều kiện để bảo vệ và phát triển nền văn hoá của mỗi quốc gia.
Nhưng do nhận thức của một số nhà quy hoạch, kiến trúc, quản lý xây dựng và quần chúng nhân dân còn có những hạn chế, do sự đòi hỏi bức bách của công tác xây dựng trước yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ngày càng cao, mặt khác, khả năng tài chính của ta còn eo hẹp, nên đã dẫn đến những sai lầm đáng tiếc trong quy hoạch, kiến trúc, phát triển đô thị, nông thôn. Đó là sự xây dựng tự phát, lộn xộn đã và đang diễn ra ở một số địa bàn, gây ảnh hưởng xấu đến cảnh quan môi trường đô thị, nông thôn làm mất đi nét đẹp truyền thống của dân tộc. Trong những năm gần đây, ở một vài thành phố lớn, đây đó đã “mọc” lên những ngôi nhà “bê tông – kính” chọc trời, với hình khối khô cứng, xa lạ với thị hiếu thẩm mỹ của nhân dân ta. Tệ hại nhất là cứ có chỗ nào trống là nhét nhà cao tầng vào đó, bất chấp cơ sở hạ tầng đã quá tải, gây ùn tắc giao thông nghiêm trọng. Lại có nhiều công trình lấn chiếm sâu vào các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng.
Thời “mở cửa”, do giá đất ngày càng tăng, bất chấp cả luật lệ, quy chuẩn xây dựng đã ban hành, các “chủ đất” tận dụng các khoảng đất trống còn lại - lẽ ra dành cho vườn hoa, sân chơi, lại dùng để xây dựng khách sạn hoặc các công trình có lợi ích thiển cận hoặc riêng tư khác. Thậm chí ở một số đô thị, người ta đã xây dựng các công trình nhà ở trong những hành lang cách ly để bảo vệ các tuyến lưới điện cao thế, đường sắt, quốc lộ, đê điều; đè lên cả các công trình ngầm như ống dẫn dầu, cống thoát nước, đường ống cấp nước sinh hoạt… và kể cả việc xây dựng ngay trong sân của các công trình di tích như: đình, chùa, đền, miếu… Ở các đô thị lớn, một số xí nghiệp, công nghiệp gây ô nhiễm môi trường độc hại đáng lẽ phải di chuyển khỏi nội thị, nhưng vẫn còn tồn tại, “chung sống” với dân cư trong lòng thành phố. Mật độ xây dựng trong các khu dân cư ngày càng tăng, diện tích cây xanh ngày càng thu hẹp, “lá phổi xanh đô thị” đã đến lúc “nhiễm bệnh”.
Tổng kết hội nghị bàn về “Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”, đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng nhấn mạnh: “… Sự nghiệp văn hoá không tiến hành riêng rẽ, mà nhuần nhuyễn thống nhất, quyện chặt với kinh tế, xã hội, quân sự, đối ngoại, an ninh, thấm sâu vào mọi hoạt động hàng ngày, ở mỗi con người, ở mỗi lứa tuổi, mọi gia đình, mọi cơ sở, ở tất cả các môi trường xã hội và thiên nhiên…”. Đồng chí còn nhắc nhở: “Các nhà văn hoá, các nhà trí thức trong tất cả các lĩnh vực giáo dục, khoa học, y tế, xây dựng, kiến trúc, sáng tạo nghệ thuật… có vị trí rất quan trọng trong nhiệm vụ cao cả, gieo trồng và sáng tạo những giá trị văn hoá mới của dân tộc”. 






