Bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ tác phẩm của Vi Hồng
Một trong những đặc điểm về cách diễn đạt của người miền núi nói chung và người dân tộc Tày nói riêng là hay so sánh, liên tưởng, nói có hình ảnh. Và trong cách so sánh, bên cạnh điểm gần gũi, người Tày cũng có những nét riêng nếu so với các dân tộc khác. Chẳng hạn, người Kinh khi nói về vẻ đẹp của một thiếu nữ thường ví: “đẹp như hoa”, “tươi như hoa”.Nhưng đó chỉ là “hoa” chung chung, không gắn với cái tên cụ thể. Còn người đẹp trong tác phẩm Vi Hồng được ví với những loài hoa với những cái tên, mang màu sắc vừa hư vừa thực của núi rừng Việt Bắc: hoa Vẳc viền, hoa Pan chủ, hoa mạ, hoa Biooc loỏng… Khi miêu tả ngoại hình các thiếu nữ, Vi Hồng thường lấy hoa làm vật so sánh. Trong tiểu thuyết Phụ tình, Vi Hồng đã sử dụng hình ảnh so sánh này 12 lần, trong tiểu thuyết Đi tìm giàu sang, nhà văn sử dụng hình ảnh “hoa” để ví với vẻ đẹp của người thiếu nữ 15 lần và trong tiểu thuyết Đoạ đàynhà văn lại sử dụng tới 22 lần. Đây chính là một biểu hiện của tâm hồn, cũng là cách tư duy, cách nói của dân gian Tày: Dân gian Tày thường nói: đẹp như hoa, sáng như hoa, trẻ như hoa, trắng như hoa; múc nước thành hoa,, vục nước thành hoa.Hoa biểu tượng cho lòng tin và bản lĩnh “Hoa em bốn mùa không héo, Hoa này lửa đốt không cháy, hoa này thả nước không trôi” hoặc “Hoa em ngời tận mắt, Hoa em sáng tận mặt”.Có thể nói, dân gian Tày lấy “hoa” làm cảm xúc, làm tiêu mẫu. Trong tâm thức dân gian Tày suốt bao thế hệ chắc chắn đều có nguồn gốc từ ngưỡng “hoa” 2.
Tắm mình trong nguồn mạch của ngôn ngữ dân gian Tày, Vi Hồng có một vốn liếng khá phong phú về ngôn ngữ dân tộc mình. Vốn hiểu biết ấy được nhà văn vận dụng vào sáng tạo văn chương. Nhiều hình ảnh so sánh trong văn chương của ông mang đậm sắc màu miền núi 3: “người lạnh toát như chim trong sương muối mùa đông”, “chảy như nhớt cá nheo”, “buồn rười rượi, mặt lúc nào cũng như là “toong mản” cắt rời khỏi cuống”, “cười như con trâu cười bãi nước đái của nó”…
Có thể tìm thấy rất nhiều hình ảnh so sánh liên tưởng trong tác phẩm của Vi Hồng. Trong rất nhiều hình ảnh so sánh ấy, vế so sánh thường là những hình ảnh quen thuộc, gần gũi đối với người dân miền núi. Chẳng hạn: Một đứa trẻ bụ bẫm được ví “ như con ngỗng mới nứt vỏ trứng”; Một thửa ruộng bằng phẳng, không mấp mô được ví “ như miếng đường phèn”; Một chàng trai dũng cảm là một con người có “ mật to bằng quả bí”; hoặc: “ bóng đêm đặc quánh như một vại chàm khổng lồ”, “ làm hùng hục như con gấu ngựa”, “ ý nghĩ buốt như ngòi ong châm”… Ngôn ngữ của các nhân vật trong tác phẩm Vi Hồng cũng mang sắc màu như thế: “ Cái khôn của mày chỉ bằng hạt vừng, cái ngốc bằng quả bí”, “ Mày thật là đồ thanh củi, chẳng biết đằng gốc đằng ngọn”, “ Con trâu con gấu ăn mất lưỡi hay chuột tha mất cặp môi rồi mà im như hòn đá thế?”…
Ngay cả khi miêu tả suy nghĩ và thế giới nội tâm của nhân vật, Vi Hồng cũng hay dùng những hình ảnh so sánh gần gũi với cuộc sống, tâm thức của người miền núi: “Thu Lú thấy ruột gan mình như lửa thui, như ong châm chích”,“Nỗi buồn đang rát bỏng trong tâm hồn anh như trăm nghìn lá han đỏ đang thoa lên một cơ thể trần trụi”,“Nỗi lòng của Thieo Si đang cuồn cuộn như dòng sông Nặm Đáo lắm thác ghềnh”,“Hoàng nghĩ bộn bề căng thẳng, những ý nghĩ trẻ con chồng chèo lên nhau, réo sôi như con thác Chín Thoong”…Đây là suy nghĩ của một thiếu nữ về người yêu: “Anh ấy không đến thăm thì mình chắc đã chết héo như tàu lá dong phơi trên đỉnh đèo”và khi người thiếu nữ ấy bị phụ tình : “Anh phụ tình mới để em buồn như cá mắc cạn, như con dao sắc mất hòn đá mài, như vườn dâu mơn mởn thiếu nong tằm ăn rỗi”…
Theo Vi Hồng, các nhà văn miền núi có hai cách diễn đạt - nói rộng hơn là hai phong cách thể hiện:
“Con đường thứ nhất, tác giả tiến từ lối phô diễn của người dân tộc chuyển sang lối phô diễn theo tư duy tiếng phổ thông. Những người này cho vậy thì văn chương mới trau chuốt.
Con đường thứ hai, ngày càng đi sâu vào lối phô diễn của dân tộc, do đó đã đem lại cho tác phẩm của mình màu sắc dân tộc rõ rệt” 4.
Có thể nói, Vi Hồng đã đi theo cách thứ hai, đó là cách “đi sâu vào lối phô diễn của dân tộc”.Bởi vậy nhà văn đã “đem lại cho tác phẩm của mình màu sắc dân tộc rõ rệt”.Chú trọng tới lối phô diễn của dân tộc mình, Vi Hồng sử dụng thành ngữ, tục ngữ, dân ca Tày để thể hiện lời ăn tiếng nói và tâm tư tình cảm của các nhân vật, đồng thời sử dụng cả lối phô diễn ấy trong ngôn ngữ của người kể chuyện.
Ở đây, xin lấy một ví dụ, trong Gã ngược đời, khi miêu tả giọng nói, cách nói, tính chất lời nói của các nhân vật, người kể chuyện thường kể theo lối phô diễn : “Mỗi tiếng nói đều rắn chắc như những hòn sỏi bên bờ suối”, “Nó trở về với giọng đá lăn sấp ngửa”, “cái giọng đập chum đập vại”, “giọng rắn chắc như đá và khê nồng như cục vôi vừa ngâm xuống nước lã”. “Cô là cái đồ gở miệng, gở người, là đồ gà mái biết gáy, là đồ con gà gáy tiếng gở đáng chặt đầu”, “nói những điều cạp nong phun độc, những lời cú báo người chết”, “một chuỗi những lời nặng như chì, đắng như mật cá chày”, “cái giọng con mọt con ốc của mày là cái giọng của những kẻ ngu xuẩn như một thanh củi bổ chẳng biết đằng nào gốc, đằng nào ngọn”…
Rõ ràng, những hình ảnh dùng để biểu đạt trong lời văn Vi Hồng chủ yếu là những hình ảnh gần gũi với đời sống của người dân miền núi, phù hợp với cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ của họ. Kiểu tư duy, diễn đạt ấy thể hiện trên nhiều trang truyện của ông. Chẳng hạn, khi nói về những thửa ruộng xấu, năng suất không cao: “chó chạy tha hồ giữa đồng mà không vướng đuôi”; về những lời nói xấu sau lưng: “Mẹ nghe người ta nói những câu trâu vểnh tai, nhăn mặt khỉ về con rồi”;về một quá khứ xa xưa: “từ đời cổ đến kim, từ thời con bò đầm bùn, con trâu biết khóc…”; về những may rủi, thăng trầm của đời người: “Con phải nhớ lấy câu ca người già dặn: đời người có thúc thắt lại, lúc phình ra - Cái bờ ruộng bao giờ cũng đổ ở chỗ mảnh nhất”;về một vùng đất rộng mênh mông: “Mường Nặm Tốc Rù em đã có đôi lần đi qua. Đấy là vùng đất rộng chim bay gẫy cánh, quạ bay đứt hơi…”.Lối diễn đạt độc đáo của người Tày thấm vào ngôn ngữ nhân vật và cả ngôn ngữ nhà văn: “Em không đi chợ và cũng chẳng đến nhà anh nữa đâu. Anh cho em xin chiếc còn của con khỉ, con vượn làm nên, xấu như con dơi con diều, hôi như con cú, anh giữ làm gì cho thêm bẩn rương bẩn hòm. Họ nói với nhau thật nhiều lời. Lời khiêm tốn nhỏ bằng hạt vừng, lời ca ngợi nhau quá mây xanh. Lời tâm tình thì ngủ trong tim trong mắt”…
Tác phẩm của Vi Hồng viết bằng tiếng Việt, nhưng ông không chỉ sử dụng lối nói của người Kinh mà chủ yếu khai thác vốn văn hoá và cách biểu đạt của dân tộc mình hoặc sử dụng ý thành ngữ, tục ngữ, ca dao của người Kinh những diễn đạt theo cách nói của người Tày. Chẳng hạn, người Kinh có câu:
Đàn ông nông nổi giếng khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu
Thì Vi Hồng viết: “bụng đàn ông sâu trăm sải, nghìn trượng, bụng đàn bà nhìn đằng trước lọt sau”.Nếu như người Kinh có câu: “Không có lửa làm sao có khói”, Vi Hồng diễn đạt theo sự liên tưởng của người miền núi: “Không có hổ làm sao có dấu chân, không có ốc làm sao có được mà”.Để nói về sự giúp đỡ lẫn nhau trong cuộc sống, để diễn đạt ý trong câu thành ngữ của người Kinh: “lá lành đùm lá rách”, Vi Hồng dùng câu thành ngữ của người Tày tương ứng Rườn lai hưa rườn nọi, rườn nọi hưa rườn dai(nhà nhiều giúp nhà ít, nhà ít giúp nhà không). Để nói về những kẻ được hưởng lợi trong những hoàn cảnh không lợi đối với kẻ khác, người Kinh có câu: “ đục nước béo cò”, còn Vi Hồng dùng hình ảnh “ hổ cắn nhau thì nai béo”. Khi nói về tâm trạng bất an do lo nghĩ về việc gì đó, người Kinh có câu: “ ăn không ngon, ngủ không yên”, Vi Hồng dùng câu thành ngữ Tày: “ Kin bấu pền ám, chìm bấu hăn van”(ăn chẳng nên miếng, nếm chẳng nên ngon)…
Tìm hiểu bản sắc dân tộc trong ngôn ngữ tác phẩm Vi Hồng, chúng ta hiểu rõ hơn một yếu tố quan trọng mang lại bản sắc dân tộc đậm đà trong văn chương của ông. Tất nhiên bản sắc ấy còn làm nên bởi nhiều yếu tố khác: những bức tranh thiên nhiên; các phong tục, tập quán; tâm hồn, tính cách của các nhân vật được nhà văn miêu tả và xây dựng… Nhưng ở phương diện ngôn ngữ, chúng ta có thể nhận xét rằng, Vi Hồng đã thực hiện được tâm nguyện của mình là “phản ánh được tâm hồn dân tộc mình. Văn chương của người Tày phải phản ánh tâm hồn Tày”. Cũng phải thấy thêm rằng, Vi Hồng đã không chỉ phản ánh được tâm hồn dân tộc mình mà bằng ngôn ngữ tác phẩm của mình, mà bằng ngôn ngữ tác phẩm của mình, nhà văn đã góp phần lưu giữ, bảo tồn và phát huy những vẻ đẹp của tâm hồn ấy - đó là sự bảo tồn vẻ đẹp văn hoá bằng văn chương, theo cách riêng của mình.
_______________
Chú thích:
(1) Dương Thuấn: Nhà văn Vi Hồng như tôi biết. Tạp chí Dân tộc và miền núi, số 5/2002, tr 21.
(2) Hoàng Ngọc La, Hoàng Hoa Toàn, Vũ Anh Tuấn: Văn hoá dân gian Tày. Sở Văn hoá thông tin Thái Nguyên, 2002, tr 107.
(3) Những ví dụ trong bài viết này chúng tôi trích từ các tác phẩm: Đất bằng, Tháng năm biết nói, Núi cỏ yêu thương, Vãi Đàng, Gã ngược đời, Dòng sông nước mắt, Phụ tìnhcủa Vi Hồng.
(4) Vi Hồng: Bước phát triển mới của văn học dân tộc ít người Việt Nam: con đường từ thơ đến văn xuôi, kịch bản. Tạp chí Văn học, số 5/1980, tr. 41
Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống,số 4 (126), 2006







