Bài học phố cổ
Xác định sai đối tượng bảo tồn
Theo đa số những quan điểm bảo tồn cho đến nay thì bản sắc của khu 36 phố phường được tạo bởi những yếu tố sau:
- Hình ảnh Phố Phái, với tường rêu xanh mốc, mái ngói lô xô.
- Nhà ống, hẹp 3-5m, sâu 40-60m, có xen kẽ giếng trời.
- Lịch sử phường hội, mỗi phường một nghề, có cấu trúc làng đô thị, với đình làng, đến, miếu, cổng làng… Sau này phát triển thành các phố hàng, mỗi phố bán một loại sản phẩm.
- Kiến trúc phố cổ đa số là nhà kiểu truyền thống, kiến trúc gỗ ngói, vì kèo, mặt tiền thấp, một tầng đến tầng rưỡi, đan xen với một số kiến trúc từ thời Pháp. Hiện trong phố cổ còn một số công trình đặc trưng của từng thời kỳ, là đối tượng chính của bảo tồn.
- Có một thứ gọi là thanh lịch Tràng An, niềm tự hào phố cổ của những người dân gốc Hà Nội. Ngoài ra có một số lịch sử, văn hóa, danh nhân gắn liền với khu vực phố cổ. Tất cả tạo chung thành một văn hóa phố cổ, là không khí phố cổ, giá trị bảo tồn phi vật thể.
Tuy nhiên, nếu ta phân tích kỹ thì:
- Kiến trúc nhà ống, cấu trúc phường hội không phải chỉ riêng ở phố cổ Hà Nội mới có mà là hiện tượng chung ở nhiều đô thị tiền công nghiệp trên thế giới. Bản thân ở Hà Nội, những đặc điểm đó cũng không có lịch sử thực sự lâu dài mà đa số mới hình thành cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như vậy, nếu xét về đặc điểm kiến trúc tổng thể thì Hà Nội đã không thể so sánh được với những khu đô thị tiền công nghiệp tương tự có lịch sử hàng ngàn năm như Edingburgh, Bruxel hay Lệ Giang.
![]() |
- Cái gọi là thanh lịch Tràng An, không khí phố cổ bao gồm những yếu tố gì, bảo tồn bằng cách nào, chưa được nêu một cách rõ ràng. Một điều rất rõ là khu phố cổ vốn là khu Kẻ Chợ, gồm người dân tứ xứ đổ về và sau này thì lại càng rõ như vậy. Đó không phải là một vùng đất thâm căn cố đế của một vài dòng tộc lớn có nét văn hóa riêng.
Xác định sai vấn đề bức xúc
Theo các báo cáo thì vấn đề phố cổ chủ yếu là:
- Hạ tầng thiếu thốn, ngày càng xuống cấp. Đường sá chật hẹp, không có chỗ để xe.
- Mật độ dân quá cao, trên 600 người/ha, có nơi tới gần 1000 người/ha. Nhà cửa chật chội, ẩm thấp, ít ánh sáng, điều kiện vệ sinh tồi tệ.
- Chênh lệch giàu nghèo, xã hội phức tạp.
- Gần đây có nhiều biến đổi do cơi nới, xây mới, làm mất bản sắc xưa.
Tất nhiên các vấn đề nêu trên là đúng ở một góc độ nào đó, có điều ta phải nghĩ đến những khía cạnh sau:
- Tuy đường sá chật hẹp, hạ tầng thiếu thốn nhưng phố cổ vẫn là nơi ít tắc đường, chỉ số ô nhiễm ồn, bụi, nguy cơ ngập lụt thấp so với toàn nội thành Hà Nội.
- Mặc dù điều kiện ở tồi tàn, chật chội nhưng không mấy người muốn rời bó phố cổ. Giá nhà, đất ở phố cổ vẫn cao nhất Hà Nội, chứng tỏ khu vực này được đánh giá tổng thể là rất hấp dẫn.
- Tuy chênh lệch giàu nghèo cao, nhưng hiện nay thu nhập trung bình của dân phố cổ gấp 1,5 lần dân Hà Nội nói chung. Mặt khác, chúng ta biết là vấn đề chênh lệch giàu nghèo vốn là vấn đề tổng thể. Ta có thể phân riêng người giàu ra một nơi, người nghèo ra một nơi nhưng không thể giải quyết tận gốc sự chênh lệch trong xã hội.
- Đúng là có những biến đổi không tốt, nhưng không phải biến đổi nào cũng là không tốt. Khi những giá trị cần bảo tồn đã không được xác định đúng thì việc đánh giá tác hại của việc không tuân thủ bảo tồn cũng không chính xác. Mặt khác, thực tế xây dựng trên đã tỏ rõ sự bất lực của quy chế bảo tồn hiện hành.
![]() |
Chúng ta biết rằng đại đa số các quan điểm bảo tồn phố cổ trên thế giới xuất phát từ các nước phát triển như ở châu Âu, Nhật Bản. Ở đó, vấn đề phố cổ có thể nói chung là một khu vực có lịch sử hàng ngàn năm, với vô số công trình rất có giá trị, không gian sống và cảnh quan rất tốt nhưng bị bỏ rơi, lãng quên vì người dân không muốn ở đó nữa mà chuyển đến những đô thị công nghiệp hiện đại. Nhưng sau này người ta đã thấy được nhiều cái dở của đô thị hiện đại và tái phát hiện ra những giá trị sống của khu phố cổ trong kỷ nguyên mới của thời đại dịch vụ, du lịch. Vì thế người ta mới thực hiện những chương trình bảo tồn chủ yếu bằng cách làm sống động lại khu vực này, tạo công ăn việc làm mới, thu hút du khách… biến những khu này thành những trọng điểm của nền kinh tế du lịch hiện đại.
Ở phố cổ Hà Nội hiện nay, chúng ta có tình huống khác hẳn: Một khu phố có điều kiện kỹ thuật tồi tàn, lịch sử vật thể cũng tương đối mới, không có công trình nào thực sự đáng giá, nhưng cả người dân lẫn du khách đều đổ xô vào đó, bất chấp giá cả đắt đỏ. Như vậy có nghĩa là dù có tất cả những nọc độc và gai góc, bông hoa phố cổ hiện tại vẫn đang được xã hội đánh gia là bông hoa quý nhất, đẹp nhất. Vậy mà thay vì nhận ra cái đẹp đó, thưởng thức nó và học theo nó thì chúng ta lại chỉ nhìn thấy nó là một đống đổ nát của một thời quá khứ hoàng kim đằng nào cũng không thể cứu vãn được.
Nguy hiểm hơn nữa, việc lầm tưởng những vấn đề lạc hậu, bất cập của phố cổ thành giá trị bảo tồn, và cho thế mạnh thực sự là vấn đề của nó, dẫn đến định hướng quy hoạch một loạt khu đô thị mới nhắm “tránh những sai lầm phố cổ”, kết quả là tạo ra những đô thị mới thực sự kém bản sắc và thiếu sức sống.
Bằng chứng của điều đó rất hiển nhiên: Nếu anh đã nói phố cổ tồi tàn, xuống cấp, lạc hậu như vậy và anh xây khu đô thị mới hiện đại, tốt đẹp hơn thì người ta sẽ phải rời khu phố cổ đến phố mới, để lại khu phố cổ tồi tàn cho lớp dân nghèo như các nước đang phát triển ở Nam Mỹ, Trung Mỹ. Vậy mà ở Hà Nội thì sau vô số khu đô thị mới, giá đất phố cổ vẫn cao nhất, người vẫn đông nhất, và thu nhập bình quân vẫn cao nhất. Điều đó cho thấy bài học của chúng ta đã sai về cơ bản.
Giá trị đích thực của phố cổ
Với một độ hấp dẫn vượt trội như vật, phố cổ chắc chắn phải có một giá trị đích thực. Xác định được giá trị này mới là cơ sở để bảo tồn.
Hà Nội mang tên Thăng Long từ ngày định đô một ngàn năm trước và giữ được tên này trong ký ức mỗi người, nhưng hẳn ít người thực sự đặt câu hỏi hay suy ngẫm về cái tên này. Cái tên Thăng Long có thể có nhiều nghĩa, nhưng chắc chắn nó bao hàm mong muốn của cổ nhân về thành phố của mình. Nói về con rồng, có lẽ chúng ta đều hình dung về một loài bò sát nhiều vảy, sáng lấp lánh vàng hay ngũ sắc, nhưng mà hình thù cụ thể thì biến ảo khôn lường. Cái đẹp của phố cổ cũng như vậy, gồm rất nhiều mảnh nhỏ ghép lại, có thể biến đổi rất nhanh, linh hoạt như một con kỳ nhông. Những đặc điểm làm nên cái đẹp biến hình này là:
Mật độ cao.Con rồng muốn đẹp phải có vô số vảy, như vậy cần phải có mật độ rất cao. Mật độ phố cổ, nhất là khi mọi người đều tự nguyện và muốn ở đó, là một thế mạnh chứ không phải điểm yếu. Chúng ta phải hiểu rằng trong cơ chế thị trường, giá đất cao đi với sự tập trung mật độ đông dân số là bằng chứng thuyết phục nhất cho độ hấp dẫn và bền vững của một khu đô thị. Vì vậy bài toán bảo tồn đặt ra cho phố cổ là phải làm sao giữ được mật độ dân một cách tự nguyện chứ không phải là giãn dân.
Làm sao đừng để xảy ra giống như phương Tây là để dân bỏ hết khỏi phố cổ rồi mới nghĩ cách gọi họ lại. Và bài toán đối với các khu đô thị mới là làm thế nào học theo phố cổ để đạt được mật độ cao chứ không phải là tạo ra những khu đô thị lạnh lẽo rộng thênh thang kiểu hiện đại. Tấm gương phố cổ với trên 60.000 dân chỉ chiếm có 100ha đất đô thị là bài học lớn phản biện tư duy quy hoạch cho rằng sinh thái phải là mật độ thấp, điều đã dẫn đến sự phát triển tràn lan của những khu đô thị mới, mỗi khu có thể vài trăm ha thậm chí vài ngàn ha mà bên trong rỗng tuếch. Ngoài ra, vì muốn giãn dân, người ta đã trì hoãn việc hợp thức hóa quyền sử dụng đất cho nhiều đối tượng trong phố cổ. Nhưng điều đó dẫn đến người dân sẽ coi khu phố này là chỗ ở tạm bợ và không đầu tư, khiến cho nó càng xuống cấp. Mặt khác, do không có giấy tờ nên việc chuyển nhượng cũng khó khăn, nhiều người muốn mua lại, cải tạo không gian sống cũng không phải dễ dàng. Cùng với những dự án treo về bảo tồn kiến trúc thì ý đồ muốn giãn dân phố cổ đã mang lại thảm họa lớn cho khu phố này.
Đa dạng thành phần.Sự đa dạng màu sắc của con rồng được tạo bởi sự đa dạng về tuổi tác, thu nhập, quê quán, học thức… Đó chính là bản chất của nơi đô hội, chốn thị thành, cũng là bản chất của không gian phi vật thể phố cổ. Về công năng, người giàu phải có người nghèo phục vụ mới bõ công giàu, người nghèo phải có người giàu mới kiếm được bát cơm. Tất cả cần sống dựa vào nhau, bổ trợ cho nhau như một quần thể cộng sinh trong rạn san hô. Vậy mà ta lại cho sự đa dạng này là chênh lệch giàu nghèo, mâu thuẫn xã hội cần phải được giải quyết. Từ đó dẫn đến quy hoạch những khu đô thị mới theo chủng loại: khu biệt thự đại gia, khu giáo sư, khu quan chức, khu ở cho người thu nhập thấp… Như thế khác nào biến từ một khu rừng nguyên sinh đa dạng thành vài lâm trường trồng cây thuần loài đơn điệu, nhàm chán. Từ sự sai lạc về quan điểm dẫn đến việc lấy những khu đô thị như Ciputra, Phú Mỹ Hưng làm mẫu cho cả nước, gây biết bao hậu quả nghiêm trọng lâu dài. Và đây là lý do chính khiến cho các khu đô thị mới không hấp dẫn và không thể thay thế khu phố cổ.
Chia nhỏ kiến trúc.Thế mạnh của phố cổ thực ra không phải nhà ống, cũng không phải một dạng mặt tiền này khác, mà là sự chia nhỏ đơn nguyên kiến trúc. Và thế mạnh của sự chia nhỏ này là khả năng thích nghi, thay đổi của từng đơn nguyên mà không làm ảnh hưởng đến tổng thể. Cũng khống như con kỳ nhông, con mực, nhờ có vô số điểm sắc tố trên da mà có thể biến màu liên tục và vẫn giữ được tổng thể hài hòa. Trong khi đó, những khối công trình lớn thì chết cứng một thời gian rất dài mà không có khả năng thay đổi. Đây chính là thế mạnh cơ bản nhất của những cấu trúc đô thị cổ so với dạng đô thị hiện đại khối lớn ở phương Tây, giống như thế mạnh của loài động vật nhỏ so với loài khủng long trong chuỗi tiến hóa. Vì vậy điều quan trọng trong bảo tồn phố cổ không phải là bảo tồn dạng nhà ống, cũng không phải là bảo tồn nguyên trạng một vài công trình di tích, hay giữ nguyên mặt tiền, mà là khống chế không cho tạo các khối quá to, quá cao và khuyến khích sự thay đổi liên tục để cập nhật với nhu cầu, công nghệ, thời đại. Phố cổ không thể bị đóng băng mặt tiền tại một thời điểm nào đó, vì như vậy sẽ mất đi thế mạnh lớn của nó, làm giảm đáng kể sức sống, sức hấp dẫn và khả năng thích nghi của nó.
Và chính việc đánh giá sai ưu điểm của sự đa dạng bị coi là nhược điểm lộn xộn đã làm hình thành nên những khu đô thị mới gồm hàng trăm biệt thự giống hệt nhau như Ciputra và những khu nhấn mạnh các khối nhà lớn kiểu phương Tây như The Manor. Ngoài mặt tiền chia nhỏ thì cấu trúc nhà ống rất dài cho phép phân chia không gian thành nhiều cấp bậc đắt rẻ, nhiều dạng không gian sử dụng khác nhau, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều thành phần xã hội có thể cư trú. Vì vậy nếu chỉ đơn thuần là mở thêm các đường mới vào giữa các lô phố như một số ý kiến đã đề xuất, thì sẽ làm giảm sự đa dạng của nó. Và dạng nhà ống dài với phân cấp không gian do đó cũng là một bài học tốt cho các đô thị mới. Tuy nhiên, mục đích là bảo tồn sự đa dạng thành phần chứ không phải nhà ống, vì vậy sẽ có nhiều giải pháp cải tạo đảm bảo sự đa dạng này và giảm thiểu được những hạn chế kỹ thuật của nhà ống.
Chia ngắn lô phố một cách linh hoạt.Tính biến hóa, linh động của con rồng đô thị trong cảm nhận được góp phần đáng kể bởi việc chia nhỏ ô phố mà không phải kẻ ô vuông. Khi đó, mỗi phố sẽ có một không gian khác, một góc nhìn khác, tạo điều kiện thuận lợi cho những công năng sử dụng đa dạng. Những cấu trúc phường hội, mỗi phố bán một loại hàng làm tôn thêm tính đặc trưng của mỗi tuyến phố và do đó là một ưu điểm nên khuyến khích. Tuy nhiên việc có giữ được mỗi phố bán một loại hàng như trong lịch sử hay không là điều không thể gượng ép.
Thế mà ngày nay, những lô phố tự do ở khu phố cổ lại bị cho là rối loạn và không thuận tiện giao thông, vì vậy ở các khu đô thị mới rất thích làm các dạng kẻ ô vuông, với những trục dài hoành tráng mà không hiểu rằng những trục đường lớn này không bao giờ có được ưu điểm của hệ thống 36 phố phường.
Giao thông chậm.Một quy luật rất rõ ràng của đô thị là giao thông chậm thì thương mại dịch vụ mới phát triển, còn giao thông nhanh như đường cao tốc thì hai bên chỉ là vùng trắng. Giao thông ở 36 phố phường đúng như những luồng khí trong phong thủy, nghĩa là chảy chậm, len lỏi vào mọi nơi nhưng không bao giờ ách tắc. Để phát huy đặc điểm này thì nên khuyến khích đi bộ, các loại xe đạp, xích lô. Thế nhưng ngày nay chúng ta lầm tưởng tốc độ ô tô mới là hiện đại và cho rằng giao thông phố cổ là quá chậm. Ở phố cổ, chúng ta tìm mọi cách để đường thông hè thoáng, dẹp hết hàng rong, cấm đoán bán đêm, làm giảm sức sống của nó. Ở các khu đô thị mới thì chúng ta thiết kế đường thẳng, ô tô vào tận nhà. Cuối cùng là tạo ra những khu đô thị lúc thì vắng trơ, lúc thì tắc nghẽn, chỗ nào cũng có thể nguy hiểm tai nạn giao thông mà chẳng có điểm nào dừng chân.
Tóm lại, tất cả các thế mạnh chính của khu phố cổ đang bị coi là vấn đề, và quá trình người ta tìm cách khắc phục vấn đề chính đã làm giảm thế mạnh của phố cổ. Đồng thời việc tránh các “sai lầm phố cổ” đã tạo ra những phố mới kém hơn hẳn.
Nhân đây tôi xin nói là tất cả các thế mạnh phố cổ mà tôi nêu trên không phải là ý kiến cá nhân, mà là một trong những lý thuyết quan trọng nhất của đô thị học hiện đại, được mô tả kỹ lưỡng trong cuốn sách Cái chết của các đô thị Mỹcủa Jane Jacobs năm 1969. Từ đó, những đặc điểm này được coi là ưu điểm của một đô thị hậu hiện đại mà mọi quy hoạch đều cố gắng đạt đến. Chỉ có điều đối với những đô thị từ thời công nghiệp ở phương Tây thì khả năng chuyển đổi để đạt được những tiêu chí trên là rất khó, trong khi các đô thị cổ thì lại có các đặc điểm đó. Và đó cũng là lý do của phong trào bảo tồn, tái tạo các khu đô thị cổ ở phương Tây. Phố cổ Hà Nội có may mắn là không bị phong trào hiện đại phá hủy, vì vậy nó có tất cả những tiền năng chính của một đô thị hậu hiện đại.
Tuy nhiên, một đô thị hậu hiện đại không phải là tiền hiện đại, vì thế phố cổ Hà Nội phải biến đổi để thích nghi với hoàn cảnh mới. Và phố cổ Hà Nội lại có thế mạnh so với các đô thị cổ phương Tây ở chỗ nó không có nhiều công trình quan trọng cần phải giữ. Vì thế, thông điệp cuối cùng là: Hãy nhìn phố cổ Hà Nội dưới góc độ cơ may hội nhập vào một chất lượng đô thị tương lai, làm gương cho cả nước chứ không phải là một tập hợp của những công trình cũ kỹ, sập sệ cần phải tu bổ làm bảo tàng.










