Áp lực kinh tế và cơ chế bình duyệt
Viện Nghiên cứu y khoa Garvan-Sydney, Úc
Hãy tưởng tượng một bối cảnh quen thuộc: một tập san y học hàng đầu thế giới nhận được bản thảo báo cáo khoa học về một công trình nghiên cứu. Ban biên tập (BBT) đọc qua phần tóm lược của bản thảo, và quyết định gửi cho ba chuyên gia trong ngành để xem xét và bình duyệt. Các chuyên gia này căn cứ vào phương pháp và kết quả nghiên cứu được mô tả trong bài báo, viết báo cáo cho BBT và phản hồi cho tác giả. Sau khi xem qua ba báo cáo và đề nghị của ba chuyên gia, BBT gửi bản thảo lại cho tác giả và đề nghị trả lời tất cả các câu hỏi của các chuyên gia bình duyệt và gửi lại cho BBT để có quyết định sau cùng. BBT một lần nữa xem qua bản phúc trình của tác giả và đề nghị của các chuyên gia quyết định cho công bố bài báo. Bài báo sau khi công bố đã thu hút sự chú ý và tác giả trở thành một “ngôi sao”. Tuy nhiên, sự thật là công trình nghiên cứu đó không có thật, và bài báo là một tiểu thuyết không hơn không kém. Tác giả chẳng làm nghiên cứu, tất cả những dữ liệu, số liệu, hình ảnh, biểu đồ hoàn toàn được giả tạo.
Trường hợp “tưởng tượng” vừa nêu trên là một trong nhiều vụ tai tiếng đã xảy ra trong thực tế. Năm 2005, tập san khoa học nổi tiếng Lancet đã công bố một công trình nghiên cứu của bác sĩ Jon Sudbo, chuyên gia về ung thư thuộc Bệnh viện Radium và Đại học Oslo (Na Uy). Trong bài báo, bác sĩ Sudbo cùng 13 cộng sự báo cáo rằng họ đã tiến hành một nghiên cứu đối chứng (case-control study) với 908 đối tượng, và kết quả cho thấy thuốc chống viêm NSAID có hiệu quả làm giảm nguy cơ ung thư miệng. Phát hiện của bác sĩ Sudbo gây sự chú ý lớn bởi vì các loại thuốc NSAID được sử dụng rất rộng rãi để giảm đau và tương đối rẻ. Và nếu thật sự thuốc có thể chống ung thư thì đó là một tin vui: một thuốc trị hai bệnh.
Tuy nhiên, trên thực tế, nghiên cứu của Sudbo là hoàn toàn giả tạo. Khi điều tra lại các số liệu gốc (giả tạo), người ta phát hiện trong số 908 đối tượng được “điều tra”, có đến 250 người có cùng ngày tháng năm sinh! Nhưng điều đáng chú ý hơn là trong phân tích, Sudbo đã không để lộ một kẽ hở nào trong số liệu để người bình duyệt có thể nghi ngờ. Tổng biên tập tập san Lancet, Richard Horton, nói rằng Sudbo quá “quái”, đến độ có thể qua mặt tất cả 13 cộng sự là tác giả của bài báo và tất cả các chuyên gia bình duyệt… Hành động ngụy khoa học của bác sĩ Sudbo chỉ được phát hiện khi một nhà dịch tễ học người Na Uy chú ý đến đoạn báo cáo mà Sudbo cho biết nguồn bệnh nhân mà ông nghiên cứu được trích từ một ngân hàng dữ liệu (database) về ung thư thuộc Bệnh viện Radium, bởi vì trong thực tế ngân hàng dữ liệu này không hiện hữu!
Trong lịch sử khoa học, tính từ thế kỷ 19 đến nay, không thiếu những trường hợp nghiên cứu giả tạo như thế. Chẳng hạn, trường hợp của bác sĩ John Darsee vào thập niên 1980, lúc đó là một giáo sư trẻ thuộc Đại học Emory (Mỹ), công bố một loạt 10 bài báo mà ông đứng tên tác giả đầu và được thăng tiến nhanh chóng nhưng sau đó bị phát hiện tất cả đều là ngụy tạo. Mới đây nhất là trường hợp của tiến sĩ Hwang Woo Suk (Hàn Quốc) ngụy tạo dữ liệu trong các nghiên cứu tế bào mầm gây xôn xao dư luận.
Áp lực và đạo đức khoa học
Theo tôi, nguyên nhân chính dẫn tới các nghiên cứu khoa học ngụy tạo là do áp lực về kinh tế và tình trạng suy đồi đạo đức. Ngoài ra, còn thêm một yếu tố khác là những thiếu sót nghiêm trọng trong hệ thống bình duyệt một bài báo khoa học thực nghiệm.
Khoa học hiện đại là một ngành nghề rộng lớn với nhiều đầu tư về tài lực. Ngày nay, gần 80% các nghiên cứu lâm sàng là do các công ty dược tài trợ và các nhà khoa học thường xuyên chịu sức ép từ các nhà tài trợ này. Tại các nước phương Tây, phần lớn các giáo sư và nhà khoa học chịu áp lực lớn từ trường đại học phải làm nghiên cứu và công bố nó. Có nghiên cứu, có bài báo khoa học được công bố đồng nghĩa với việc có cơ hội thăng tiến. Vì vậy, cái mà người ta gọi là “publish or perish” (công bố hay là tàn lụi) làm cho các nhà khoa học lúc nào cũng nơm nớp nghĩ đến bài báo khoa học như là một lẽ sống còn. Họ phải bằng mọi cách, và có khi nhắm mắt bỏ qua đạo đức khoa học, để mỗi năm có một bài báo nhằm tồn tại.
Ở một khía cạnh khác, để làm hài lòng nhà tài trợ (để được tiếp tục tài trợ), có khi nhà khoa học cũng nhắm mắt trước những việc làm sai trái, cố tình “nặn” ra cho được những nghiên cứu có lợi cho nhà tài trợ. Chính bản thân các nhà khoa học cũng thích được chú ý. Vì vậy, nhiều khi một nghiên cứu, dù còn rất sơ khởi, nhưng họ vẫn không ngần ngại tuyên bố vung vít. Thành ra, không ai ngạc nhiên khi thấy trong giới khoa học có nhiều nhân vật đạo văn, ăn cắp ý tưởng, bịa đặt số liệu, “uốn” số liệu theo ý mình...
Hệ thống bình duyệt
Bình duyệt (peer-review) là một cơ chế nhằm đánh giá và kiểm tra các bài báo khoa học trước khi chấp nhận cho công bố trên một tập san khoa học chuyên môn. Về mặt lý thuyết, đây là một cơ chế rất hay, bởi vì người đánh giá công trình nghiên cứu là những người cùng làm trong ngành, có chuyên môn liên quan đến công trình nghiên cứu, họ chính là người có thẩm quyền và khả năng đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Cơ chế duyệt bài thường thành công trong việc ngăn chặn nạn gian dối, giúp cho ban biên tập các tập san hay các cơ quan cung cấp tài trợ ra các quyết định công bằng.
Tuy nhiên, cơ chế kiểm duyệt bài vở không thể (hay ít khi nào) phát hiện gian dối. Một chuyên gia được mời thẩm định một bài báo chỉ có thể dựa vào những gì được trình bày trong đó (như phương pháp nghiên cứu, số liệu, hình ảnh, biểu đồ) để đánh giá chất lượng của công trình nghiên cứu. Thế nhưng, những gì được trình bày trong bài báo chỉ là những sản phẩm đã qua một hay nhiều khâu xử lý và phân tích từ số liệu gốc. Chẳng hạn như để mô tả mối liên hệ giữa thuốc NSAID và ung thư, tác giả chỉ trình bày hệ số tương quan và vài chỉ số thống kê, mà những con số này đã được tóm lược và phân tích từ hàng ngàn, thậm chí hàng triệu số liệu thô (raw data). Người bình duyệt không có cơ hội và cũng không có quyền được xem số liệu gốc nên không thể biết tác giả thực sự có những số liệu gốc đó hay không. Ngay cả nếu tác giả có số liệu gốc, người bình duyệt cũng không thể biết tác giả đã phân tích đúng hay sai, và những con số đó có chính xác hay không. Nói cách khác, khi duyệt một bài báo, người bình duyệt phải tin vào sự liêm chính của tác giả.
Ngoài ra, cơ chế bình duyệt cũng có nhiều khiếm khuyết mà hiện nay vẫn chưa thể giải quyết được. Chẳng hạn, những người duyệt bài không được quyền lợi vật chất nào trong khi phải dành ra nhiều thời gian, công sức cho nên một số người chỉ làm việc qua loa, chỉ cốt để giữ tên mình trong hội đồng biên tập!
Hiện nay, một số tập san khoa học đã từng bước áp dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là Internet, để hạn chế tình trạng gian dối. Các tập san lớn như Nature, Science, PNAS, Cell… còn yêu cầu tác giả khi gửi bài phải kèm theo tất cả các dữ liệu gốc được công bố trên một website nào đó để các chuyên gia có thể kiểm tra. Một số cơ quan quản lý khoa học cũng có chính sách kiểm tra ngẫu nhiên ngay tại cơ sở nghiên cứu của tác giả.
Nguồn: saigontimes.com.vn, 20/07/2006








