Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp và một số biện pháp giảm thiểu, thích ứng
BĐKH tác động trực tiếp, gián tiếp đến những yếu tố thiết yếu và cơ bản nhất của đời sống con người trên phạm vi toàn cầu, hầu như không một cá thể, một quốc gia nào đứng ngoài cuộc. Hàng trăm triệu người, trong đó phần lớn là nông dân có thể phải lâm vào nạn đói, thiếu nước, lụt lội, dịch bệnh tại vùng ven biển, vùng trũng thấp do hiện tượng băng tan, trái đất nóng lên và nước biển dâng. Vì thế, sự thích ứng đối với BĐKH trở nên ngày càng được quan tâm nhiều hơn trong các nghiên cứu và cả trong nhận thức về cuộc sống tương lai mỗi người dân Việt Nam .
Theo báo cáo mới nhất của Liên Hiệp quốc, nguyên nhân cơ bản của quá trình BĐKH chiếm 90% là do tác động của con người gây ra, 10% là do tự nhiên. Nhu cầu phát triển nhanh, nóng của con người về khai thác tài nguyên thiên nhiên quá mức cho phép, nhu cầu sản xuất công nghiệp, mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường... là những nguyên nhân làm cho nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên nhiều lần trong khí quyển ở mức độ cao, làm cho Trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên. Nhiệt độ trái đất nóng lên tạo ra các biến đổi đối với các vấn đề thời tiết tiêu cực hiện nay.
Đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hiệp quốc (UNDP), Việt Nam nằm trong tốp 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương n hất và tổn thương trực tiếp do quá trình BĐKH. Theo tính toán, nếu mực nước biển tăng 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% dân số mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội; 17 - 20 triệu người dân mà phần lớn là nông dân sẽ bị mất nhà cửa, ruộng đất canh tác, bắt buộc phải thay đổi phương thức sản xuất. Gần 50% đất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long (vùng sản xuất lúa chủ đạo) của nước ta bị ngập chìm, không còn khả năng canh tác. Vùng thấp như đồng bằng sông Hồng và toàn bộ dân cư sống dọc theo 3.260 km bờ biển cũng bị ảnh hưởng lớn. Kể cả miền Trung là vùng có địa thế tương đối cao, nước biển dâng sẽ làm việc thoát lũ chậm hơn. Nếu mực nước biển dâng lên là 3 - 5m thì điều này đồng nghĩa với kịch bản “có thể xảy ra thảm họa” ở Việt Nam . Dự tính sẽ có khoảng 16% tổng diện tích đất đai, 35% dân số và 35% tổng sản phẩm quốc nội bị đe dọa.
Theo đánh giá tổng kết của Bộ Tài nguyên và Môi trường, khoảng hơn 10 năm trở lại đây, Việt Nam đã phải gánh chịu tác động lớn của BĐKH. Bằng chứng là các hiện tượng thời tiết cực đoan. Thiên tai liên tục xảy ra, gia tăng về cường độ, quy mô và mức độ, gây thiệt hại lớn về tài sản, con người. Nếu như vài thập kỷ trước, lũ bão, hạn hán thường diễn ra theo quy luật khu vực và mùa ụ, thì hiện nay hầu như mùa nào, khu vực nào cũng xảy ra những biến cố bất thường của thời tiết. Bắc Trung bộ có nguy cơ gia tăng bão lũ, trong khi vùng ven biển Nam Trung bộ đang gia tăng độ khô hạn và có nguy cơ hạn hán. Trước đây, khu vực miền Namrất ít bão, nhưng hiện nay xu hướng bão di chuyển hướng Nam nhiều hơn. Ngoài ra, El Nini và La Nina hoạt động mạnh hơn cả về tần suất, cường độ kéo theo nguy cơ hạn hán, lũ lụt rất cao và khốc liệt hơn... gây ảnh hưởng nặng nề tới sản xuất nông nghiệp ở nhiều nơi. Mỗi năm, hình thành nhiều dạng thời tiết khác nhau, mùa mưa thì mưa nhiều hơn thành lũ lớn, mùa hạn kéo dài khốc liệt. Chỉ tính riêng năm 2006 thiệt hại do bão gây ra ở Việt Nam lên tới 1,2 tỷ USD, đặc biệt, mùa đông năm 2007 - 2008, thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày đã làm chết hơn 53.000 gia súc, khoảng 34.000 ha lúa xuân đã cấy, hàng chục nghìn héc ta mạ ở tất cả các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung bộ. Thiệt hại ước tính hơn 11.600 tỷ đồng; 723.900 lượt hộ với hơn 3 triệu nhân khẩu rơi vào cảnh thiếu ăn.
Ngoài ra, điều khiển các nhà khoa học Việt Nam lo lắng là nguồn nước phục vụ cuộc sống và sản xuất nông nghiệp. Gần 60% nguồn nước của Việt Nam là quá cảnh từ nước ngoài, chủ yếu qua các hệ thống sông Hồng và sông Cửu Long. BĐKH là nguyên nhân chính làm mực nước sông Hồng năm 2007 cạn ở mức kỷ lục trong vòng 100 năm qua. Ngành công nghiệp cũng bị ảnh hưởng nặng vì nguồn nước cho sản xuất điện năng bị thiếu hụt.
BĐKH tác động đến phương thức sản xuất của nông dân. Trong chăn nuôi, các yếu tố khí tượng hủy văn như độ ẩm không khí, nhiệt độ, tốc độ gió, hướng gió, lượng bốc hơi nước, lượng mưa, số ngày mưa trong tháng, trong năm... đều ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, nhất là vật nuôi quy mô hộ gia đình với các chuồng trại chăn nuôi truyền thống, đơn giản, chưa có thiết bị chống nóng, chống rét. Dịch bệnh gia súc, gia cầm phát sinh... trong cấy trồng, người nông dân luôn phải đối mặt với hạn hán, lũ lụt sâu bệnh, năng suất và chất lượng sản phẩm hàng hóa thấp.
Theo Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Cao Đức Phát thì BĐKH đã và đang tác động mạnh mẽ đến chúng ta ở tất cả các ngành, đặc biệt là ngành sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, nước ta có khoảng 74% diện tích đất nông nghiệp. Hiện nay, nước ta có khoảng 74% diện tích đất nông nghiệp, gần 80% nông dân đang sinh sống ở vùng nông thôn và sống nhờ vào sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, ngành nông nghiệp và người nông dân sẽ phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức do BĐKH. Nếu không hành động kịp thời có thể xảy ra nhiều hậu quả nặng nề.
Trước tình hình đó, Chính phủ đã giao Bộ NN&PTNT chủ trì, phối hợp các bộ ngành liên quan thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Chương trình hành động thích ứng với BĐKH, trong đó có 2 mục tiêu chính của chương trình hướng về nông nghiệp, nông thôn và nông dân. Thứ nhất,xây dựng cơ sở khoa học và phương pháp luận, cơ sở dữ liệu về tác động của BĐKH đến nông nghiệp, nông thôn phục vụ nghiên cứu, thực hiện thích ứng với BĐKH. Thứ hai, dự báo ảnh hưởng của BĐKH đối với lĩnh vực nông nghiệp, thủy lợi, lâm nghiệp, thủy sản và phát triển nông thôn. Từ đó xây dựng chính sách, chiến lược ứng phó phù hợp.
Bộ trưởng Cao Đức Phát cũng cho biết, song song với việc nghiên cứu, xây dựng chương trình hành động, ngành Nông nghiệp đang tích cực tiến hành những việc liên quan đến giảm thiểu tác động của BĐKH như: tăng cường chất lượng dự báo khí tượng nông nghiệp; tăng diện tích trồng rừng ở các vùng ngập mặn, vùng ven biển, vùng núi, sử dụng công nghệ sạch, giảm khí thải vào không khí... tiếp tục nghiên cứu giống cây trồng có thể thích ứng với vùng ngập mặn và cho năng suất cao; ứng dụng các công nghệ hiện đại trong sử dụng, bảo vệ và phát triển bền vững tài nguyên như rừng, đất, nước; xây dựng mới quy trình, quy phạm quản lý chuyên ngành, các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong quy hoạch, thiết kế, xây dựng các hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp và nông thôn. Rà soát việc quy hoạch các hệ thống hạ tầng cơ sở nông nghiệp, nông thôn, các hệ thống canh tác sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, hệ thống chống giảm nhẹ thiên tai...
Thời gian qua đã có nhiều cuộc hội thảo trong nước và quốc tế về biện pháp thích ứng BĐKH, các khoa học nêu ra một số biện pháp mà ngành Nông nghiệp cần quan tâm như: xây dựng lại kế hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp; sắp xếp lại cơ cấu mùa vụ cây trồng trên toàn lãnh thổ; phát triển quản lý nguồn nước và các biện pháp tưới tiêu phù hợp; chọn lựa giống cây trồng và công nghệ thích hợp với điều kiện sản xuất nông nghiệp từng vùng miền.
Nông dân Việt Nam có nhiều kinh nghiệm quý trong việc dự báo và chống chọi với các hiện tượng thiên nhiên. Tuy nhiên, cách ứng xử với BĐKH là công việc rất mới, phức tạp. Mặc dù, ảnh hưởng và tác động của BĐKH đối với nông dân, nông nghiệp và nông thôn đã tương đối rõ nét. Vì vậy, cần tăng cường phổ biến tuyên truyền giáo dục cho người nông dân về kiến thức, cách thích ứng với BĐKH, trong đó dần từng bước thay đổi phương thức sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, ý thức chăm lo cùng bảo vệ môi trường. Ông Trần Thục, Viện trưởng Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, BĐKH ngày càng ảnh hưởng nặng nề, bên cạnh việc xây dựng phương thức thích ứng thì vấn đề quan trọng nữa là nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo và người dân, trong đó nên ưu tiên hướng về người nông dân, khu vực nông nghiệp, nông thôn. Giáo dục cho thế hệ tiếp nối các biện pháp thích ứng nư: Chấp nhận tổn thất chia sẻ tổn thất; làm thay đổi nguy cơ; ngăn ngừa các tác động; thay đổi cách sử dụng; thay đổi, chuyển địa điểm; nghiên cứu, giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi... Đặc biệt, Nhà nước cần sớm xây dựng chương trình hành động với BĐKH mang tính chiến lược, tổng thể với các giải pháp, chính sách phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội.








