Ăn uống với sức khoẻ
Quan điểm về ăn uống theo y học
A. Theo Tây y:
Từ thời tiền sử, con người phải thích ứng để sinh tồn trong một môi trường luôn thay đổi. Trong những khó khăn thường gặp có các thay đổi đột ngột về điều kiện, hoàn cảnh, khí hậu (từ nóng đến lạnh, từ ẩm ướt đến khô ráo, từ yên ổn đế giông bão), nhất là phải giành giật lấy thức ăn trong sự tấn công của các động vật khác. Những vết tích về bệnh lâu đời nhất ở người, đã tìm thấy ở các xác ướp Ai Cập cổ đại (từ 17.000 năm trước). Có những vết tích viêm xương-khớp, thấp khớp mạn tính, sỏi đường tiết niệu, lao cột sống, viêm lợi nghiêm trọng. Trong đó có 2 bệnh là thấp khớp và viêm lợi thường đi đôi với nhau, có thể coi như “nhân” với “quả”, như vậy có thể nghĩ đến yếu tố thiếu dinh dưỡng, thiếu sinh tố C trong ăn uống.
Trải qua rất nhiều kỷ nguyên, cùng với lịch sử tiến hoá của nhân loại, dựa vào khoa học, ngành y đã: “Nhận biết được nguyên nhân, cơ chế sinh bệnh. Thành lập các bộ môn, chuyên khoa. Phát minh nhiều kỹ thuật trong chẩn đoán, phòng bệnh, trị bệnh...” mà loài người đã mãi mãi ghi nhớ công ơn của các nhà y học vĩ đại như: từ thời Trung cổ có Hippocrate (600-372 trước Công nguyên) được coi là thuỷ tổ của ngành y. GS. Fracastor (1484-1553) đã sớm nhận biết qua học thuyết “Nhiễm trùng lây lan” là do sự tiếp xúc qua đồ dùng chung, đường không khí, nhất là qua sự hấp thu trong ăn uống.
B. Theo Đông y:
Theo y học phương Đông: “Bệnh đi từ miệng vào” (bệnh tòng khẩu nhập), ý nói là vấn đề ăn uống có quan hệ rất mật thiết với sức khoẻ. Bởi vì, sinh mạng con người được duy trì mặc dầu phải dựa vào ăn uống, song “nếu ăn uống không đúng giờ, đúng lượng, đúng chất và sạch sẽ... thì sẽ tổn thương tới trường vị (dạ dày và đường ruột), ngoại tà (vi trùng) dễ có cơ hội để xâm nhập sâu vào bên trong các tạng-phủ của cơ thể.
Thức ăn để nuôi cơ thể cũng như thuốc men thường dùng trong Đông dược, đều có xuất phát từ nguồn thực vật, động vật là chính. Có các mùi vị tính năng thích hợp với từng tạng-phủ trong cơ thể.
Người xưa đã lựa chọn thức ăn theo cách phân loại như sau: “Ngũ cốc vi dưỡng, ngũ quả vi trợ, ngũ xúc vi ích, ngũ thái vi xung” nghĩa là:
Loại | Bao gồm | Tác dụng |
Ngũ cốc | Gạo, đậu, khoai, ngô, lúa, mạch | Bổ chính khí (sức đề kháng) cho ngũ tạng (tâm, can, tỳ, phế, thận) |
Ngũ quả | Đào, lê, táo, vả, hạnh nhân | Hỗ trợ cho ngũ cốc |
Ngũ súc | Bò, dê, gà, heo, chó | Bổ ích cho ngũ tạng |
Ngũ thái (rau) | Hành, hẹ, kiệu, hướng dương, hoắc hương | Hưng phấn ngũ tạng |
Thức ăn và thuốc men đều có chung mùi vị và tính chất giống nhau:
Phân loại Ngũ vị Tứ khí | Thuộc âm (lạnh) Chua, đắng, mặn Lạnh, mát | Thuộc dương (nóng) Cay, ngọt Ấm (ôn), nóng |
Cách phân loại trên đây, có ý nghĩa tượng trưng nhưng là một nguyên tắc để biết cách phối hợp khéo léo trong ăn uống, giúp ích cho sức khoẻ (tinh khí). Ngược lại, nếu lựa chọn, phối hợp không đúng thì sẽ sinh ra bệnh tật.
Vì vậy, việc ăn uống nói riêng, cần có sự lựa chọn từng loại để cho phù hợp với tình hình sức khoẻ. Ví dụ:
1. Các loại mỡ:
Gồm mỡ, trứng động vật. Đều có tính chất “nhiệt”, người có tuổi hoặc đang có bệnh nếu ăn mỡ thì càng khó tiêu hoá. Khi đang bị cảm cúm và những bệnh thuộc cấp tính, có trạng thái “nhiệt thực” như (thương hàn, cảm cúm, sốt rét, viêm gan vàng da, viêm họng cấp, ung nhọt, nhiễm trùng mắt cấp...), các chứng “thấp nhiệt” như (kiết lỵ, amip, đau khớp cấp...), ho có nhiều “đàm thấp” như (đàm đặc, vàng, xanh đỏ), các bệnh đang kèm chứng rối loạn tiêu hoá... thì nhất thiết, cần kiêng mỡ.
2. Các loại thịt:
Thịt tươi, thịt kho, thịt chiên, đều có tính “nhiệt” thì tất cả các bệnh ở trạng thái “nhiệt” như (cảm nhiệt, sốt, nhiễm trùng cấp) thì không nên ăn hoặc rất hạn chế. Người có bệnh thuộc thể “nhiệt” tuy đang ở thời kỳ hồi phục, cũng chỉ nên ăn các loại thịt như: thịt nạc heo, gà mái, vịt, bò, ba ba, rùa hoặc gan cật động vật. Đặc biệt không nên ăn các loại thịt như: thịt thủ heo, gà trống, chó, ngỗng... bởi dễ làm “động phong” tức là tăng thêm “nhiệt” bệnh dễ tái phát, nhất là những người tiền sử có bệnh (cao huyết áp, thiên đầu thống, ngứa dị ứng ngoài da, hen suyễn...). Những người có bệnh cấp tính, đang trong thời kỳ hồi phục, nếu cần ăn thịt tươi thì nên ướp thịt vào muối sau vài giờ, nấu thật chín sau đó mới ăn.
3. Các loại cá:
Người xưa cho rằng: “Cá ở dưới nước, hoạt động không bao giờ ngưng, cho nên có thể làm cho dễ “động phong, động hoả”, nên những bệnh như: hen suyễn, sốt rét, ung nhọt, kiết lỵ... nói chung, không nên ăn cá. Nếu có bệnh về đường ruột thì không nên ăn hoặc hạn chế ăn cá mè, cá biển, tôm, cua biển... vì dễ gây dị ứng ngứa ngoài da, rối loạn tiêu hoá hoặc gây ngộ độc như cá nóc.
4. Các loại trái cây:
a. Loại có tính lạnh, mát:
Như: dưa lang, dứa (khóm), hồng, mơ, cam, bưởi chua, cà chua, đu đủ, chanh, khế... Ở người có “tạng hàn”, “tỳ vị hư nhược”, suy nhược cơ thể nặng, đang tồn tại các triệu chứng ngoài da hoặc đang bị chứng “ngoại cảm phong hàn” ho có nhiều đàm, bụng ngực đầy chướng, rối loạn tiêu hoá, tiêu chảy, kiết lỵ... thì chỉ nên ăn có mức độ.
b. Loại có tính ôn, nhiệt:
Như: đào, mận, mít, vải, ổi, sầu riêng, bơ, mãng cầu... Những cơ thể có “tạng nhiệt” nếu ăn nhiều có thể gây ra chứng táo bón, nổi mụn nhọt, ngứa ngoài da... thì cũng chỉ nên ăn hạn chế.
5. Các loại rau và gia vị:
Rau sống và gia vị là thức ăn quen thuộc trong các bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam như: rau thơm, hành, tỏi, gừng, giềng... đều là thức ăn có vị cay thuộc tính ấm, nóng. Ở người có “tạng nhiệt” hoặc cơ thể đang trong trạng thái “âm hư, nội nhiệt” (có cảm giác sốt âm ỉ về chiều và đêm...) thì không nên ăn sống.
Các thầy thuốc Đông y trong khi khám bệnh thường căn dặn bệnh nhân về ăn uống để mau hết bệnh vì: “Nếu ăn nhiều vị mặn thì mạch máu dễ bị xơ cứng, tắc nghẹn, gây cho da bị biến sắc. Ăn nhiều vị đắng thì da bị khô, lông bị rụng. Ăn nhiều chất cay, dễ gây co rút gân cơ, móng chân, tay bị khô cứng. Ăn nhiều chất chua thì da sần xùi, môi bị cong. Ăn nhiều vị ngọt, dễ bị nhức xương, rụng tóc”. Trong thời kỳ dưỡng bệnh, muốn mau hồi phục sức khoẻ cần theo lời khuyên rằng: “Dưỡng sinh giả, dĩ đạm ẩm thực, bạc tư vị vi quý”, có nghĩa là nên hạn chế các thức ăn có độ đậm đặc cao như quá mặn, quá ngọt, đồ béo, tươi sống, thuốc lá, trà đặc... Cũng như Đại Y Tôn Việt Nam Hải Thượng Lãn Ông đã khuyên:
“Muốn cho ngũ tạng được yên
Bớt ăn mấy miếng, nhịn thèm hơn đau”
Đầu thế kỷ 20, GS. Ohsawa (Nhật Bản), năm 16 tuổi, ông mang căn bệnh ho lao, ung sang dạ dày đã tự điều trị cho mình bằng cách ăn uống theo phép trường sinh dựa trên nguyên lý Âm-Dương của y học phương Đông. Sau khi hết bệnh, ông đã đi nhiều nước trên thế giới để phổ biến phương pháp ăn uống này cho cả nhiều bệnh khác cũng đạt được kết quả kỳ diệu. Ông đã thọ 73 tuổi. Cả thế giới đều biết đến ông.
B. Một số bệnh do ăn uống gây ra:
Kinh tế và văn hoá được phát triển là điều vô cùng phấn khích, nhưng lại có mặt trái là nảy sinh ra thêm một số bệnh, mà trước kia chưa có nhiều, thì ngày nay càng xuất hiện nhiều hơn. Trong phạm vi bài viết này xin được nêu ra một số bệnh thường gặp và đang có chiều hướng phát triển, đều có nguyên nhân do ăn uống gây ra. Ví dụ:
- Bệnh tiểu đường: là do lượng insulin sản xuất ra không đủ cho nhu cầu của cơ thể. Có nguồn gốc từ yếu tố di truyền, cơ địa béo bệu, có sẵn bệnh nội tiết... Thường gặp ở lứa tuổi trung niên hoặc tuổi già. Nguyên nhân là do ít vận động, nhất là đi bộ, sống thiếu điều độ, ăn uống thái quá và uống nhiều bia rượu. Khi bệnh nặng, sẽ gây ra hôn mê hoặc có biến chứng về tim mạch, thần kinh, mắt, thận, da, để dần dần dẫn đến tử vong.
- Bệnh béo phì: là do thiếu tự chủ trong ăn uống (vượt quá năng lượng mà người đó cần tiêu thụ), có yếu tố do hoàn cảnh (ít vận động, không biết chọn lọc những thức ăn ít béo), có yếu tố như di truyền, sưng tuyến giáp, hội chứng Cushing, sử dụng nhiều thuốc corticoid, thuốc chống trầm cảm...
- Xơ vữa động mạch: là một bệnh mãn tính kéo dài nhiều năm, làm thay đổi từ từ các động mạch, làm cho màng trong bị nhiễm mỡ, sau đó màng giữa bị xơ hoá dần dần. Hậu quả là làm hẹp động mạch nhỏ và vừa, trên màng xơ vữa máu đông lại làm lấp động mạch, ngăn trở tuần hoàn. Nguyên nhân sinh bệnh là do ăn uống quá nhiều về lượng và nhiều chất béo động vật như: mỡ, bơ, tròng đỏ trứng gà, ruột non... Bệnh xơ vữa động mạch làm cho thận bị nhiễm mỡ, rồi gây ra huyết áp cao, dễ dẫn đến tai biến mạch máu não.
Thế đấy! Lẽ nào trong ăn uống với sức khoẻ cũng cần có văn hoá?
Nguồn: T/c Đông y, số 328, 25/8/2001, tr 24 - 25








