10 khâu kỹ thuật giúp giảm chi phí canh tác lúa
1. Thời vụ:(Đông xuân sớm - hè thu trễ).
Bố trí mùa vụ thích hợp, nghĩa là mùa vụ có thời tiết thuận lợi cho cây lúa phát triển và không thuận lợi cho một số sâu bệnh chính như bệnh đạo ôn và bù lạch, rầy nâu trong vụ hè thu... Qua đó giảm được chi phí sản xuất mà lúa vẫn cho năng suất cao.
Đông xuân: Xuống giống trong tháng 11 đến đầu tháng 12.
Hè thu: Xuống giống tháng 4-5. Tuỳ điều kiện từng vùng, nên xuống giống khi đã có mưa đều.
2. Làm đất và vệ sinh đồng ruộng
Đất có mặt bằng tốt, thiết kế hệ thống mương xả phèn, làm vệ sinh đồng ruộng, làm sạch cỏ và lúa dại, tiêu diệt ốc bươu. Vụ hè thu nên cày ải hoặc đốt đồng phơi đất.
3. Chọn giống phù hợp mùa vụ
Vụ đông xuân: Bố trí các giống kháng bệnh cháy lá: OM 4498, OM 2718, OM 2517, Om2513, TXĐB 93. Nếu sử dụng các giống lúa thơm nhiễm cháy lá như Jasmin 85, VD 20 thì phải xuống giống trước tháng 12.
Vụ hè thu: Chọn các giống cứng cây, kháng rầy, ít lép (Om 1499, OM 1717, OM2513...)
4. Phương pháp sạ (sạ hàng hoặc sạ thưa)
Sạ hàng: Mật độ 120kg giống/ha.
Sạ thưa: Mật độ 150-180kg giống/ha.
Cây lúa khoẻ, hạn chế sâu bệnh. Giảm chi phí phân, thuốc trừ sâu. Đi lại chăm sóc thuận lợi. Lúa phát triển đông đều, năng suất thường cao hơn sạ lan.
5. Xử lý cỏ
Làm vệ sinh đồng ruộng kỹ trước khi xuống giống. Xử lý thuốc trừ cỏ sớm (tiền nảy mầm hoặc hậu nảy mầm sớm), hoàn thành trước 20 ngày sau khi sạ.
Tuỳ đối tượng cỏ trong ruộng mà dùng thuốc cho thích hợp, như: Sofit, Sirius, Clincher, Facet... Sau khi xịt thuốc 1-2 ngày cần đưa nước vào ngập cỏ.
6. Điều chỉnh nước
Sau khi sạ 5 ngày, xử lý cỏ xong, đưa nước vào và nâng mức nước dần tới 10cm để khống chế cỏ, giúp lúa sinh trưởng tốt. Giữ nước khoảng 1 tháng sau khi sạ, rút nước phơi ruộng 5-7 ngày nhằm tăng cường lượng ôxy trong đất, giúp rễ ăn sâu, hạn chế chồi vô hiệu, cây lúa cứng cáp, khoẻ mạnh hơn.
7. Bón phân theo bảng so màu lá
Giúp cây lúa phát triển khoẻ, không có hiện tượng dư đạm dẫn đến sâu bệnh, giảm được lượng phân đạm.
So màu 15-20 lá lúa đã trưởng thành (lá thứ 3 từ trên xuống), ghi nhận kết quả, tính bình quân sẽ được chỉ số màu biểu hiện tình trạng đạm trong lá lúa. Căn cứ kết quả so màu để quyết định bón phân đạm hay không. Trên bảng so màu lá có 6 khung màu từ nhạt tới đậm, thường thì chỉ số màu lá ở khung số 4 là khung chuẩn (đủ đạm), nhỏ hơn 4 là thiếu đạm, lớn hơn 4 là dư đạm.
Bón phân nền (lần 1): Sau khi sạ 7 ngày bón 50 kg DAP + 30 kg urê + 10 kg kali.
Lần 2, 18-21 ngày sau khi sạ. So màu lá, nếu chỉ số dưới 4, bón 50-70 kg urê + 50 kg DAP + 20 kg kali. Nếu chỉ số trên 4 thì bón 50 kg DAP + 20 kg kali. Không cần bón nếu chỉ số màu lá quá cao hoặc đất ít phèn. Tiếp tục so màu lá 7 ngày 1 lần (28-35 ngày sau khi sạ), nếu chỉ số so màu dưới 4 thì bón 50 kg urê/ha, nếu chỉ số vẫn cao hơn 4 thì không bón phân và chờ đến khi lúa co tim đèn.
Lần 3, khi lúa có tim đèn (đòng cao 1-2cm) so màu lá, nếu chỉ số so màu nhỏ hơn 4 thì bón 20kg kali + 60-70 kg urê; lớn hơn 4 thì chỉ bón 20 kg phân kali/ha. Khi lúa chuẩn bị trổ không nên bón phân đạm.
8. Quản lý dịch bệnh theo chương trình IPM
Tất cả biện pháp canh tác đã nêu đều nhằm mục đích nuôi cây khoẻ, tăng sức đề kháng sâu bệnh, bảo vệ nguồn thiên địch trong đồng ruộng. Đó là nguyên tắc chính của chương trình IPM.
Trường hợp mật độ sâu bệnh không đến mức gây hại thì chỉ cần xịt thuốc 1 lần trước khi lúa trổ 5-7 ngày.
- Vụ đông xuân: Ngừa bệnh cháy lá bằng Kasai; ngừa sâu cuốn lá, bọ xít hôi bằng Padan 95 SP, Regen 0,3G...
- Vụ hè thu: Ngừa bệnh lem lép hạt, đốm vằn bằng Til super, Validacin, Anvil. Ngừa các loại sâu bằng Padan 95 SP, Karate...
- Nếu sạ dày, bón dư phân đạm sẽ tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển.
- Nếu sử dụng thuốc quá sớm (trước 40 ngày sau khi sạ) sẽ có nguy cơ sâu bệnh bột phát khi lúa trổ.
9. Thu hoạch đúng độ chín
Thu hoạch khi lúa chín 85% sẽ giữ được chất lượng gạo, nếu để lúa quá chín thì hao hụt nhiều khi thu hoạch, tăng tỷ lệ gạo gẫy.
10. Phơi sấy kịp thời
Làm khô hạt ngay trong vòng 24-48 giờ sau thu hoạch để giữ phẩm chất gạo. Nên dùng lò sấy, điều chỉnh nhiệt độ sấy thích hợp sẽ tăng tỷ lệ gạo chất lượng cao.
Nguồn: Kinh tế nông thôn, số 49 (483), 5/12/2005, tr 27








