Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 10/07/2006 22:53 (GMT+7)

Xây dựng bộ chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam

Tiếp cận định lượng trong PTBV

Tiếp cận xây dựng ma trận “Áp lực - Tình trạng - Phản ứng” (PSR)

Cách tiếp cận PSR nhằm đánh giá lĩnh vực môi trường và phát triển do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đề xuất năm 1993. Cách tiếp cận này đưa ra phương pháp mô tả các mối quan hệ giữa những áp lực do hoạt động của con người gây nên (trong năng lượng, giao thông vận tải, công nghiệp và nông nghiệp...) với tình trạng của môi trường (không khí, nước, đất và tài nguyên thiên nhiên) và những ứng phó của các cơ quan kinh tế và môi trường (các cấp chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng quốc tế).

Tiếp cận định giá môi trường trong PTBV

Lồng ghép chi phí môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia

Có hai cách tiếp cận chủ yếu để đánh giá bằng tiền đối với sự suy thoái, đó là:

- Cách tiếp cận theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”: Lượng bù đắp mà người gây ô nhiễm trả cho người sở hữu tài nguyên được coi là giá trị gần đúng của hành động gây ra sự xuống cấp. Để điều này có tác dụng, cần phải làm rõ sự sở hữu tài nguyên và phải đề ra cơ chế quy định để áp dụng.

- Cách tiếp cận chi phí phòng tránh: Các chi phí nhằm hạn chế sự xuống cấp được dùng làm giá trị gần đúng. Tiếp theo, những chi phí giả định này được dùng cho việc tính toán đánh giá chi phí thực tế đã thực hiện có liên quan đến những ảnh hưởng của ô nhiễm.

Các cơ quan quốc tế đã đóng vai trò chủ chốt trong việc nghiên cứu phương pháp luận để định giá về môi trường. Trong 10 năm gần đây, UNEP, WB... đã tổ chức các cuộc hội thảo thúc đẩy những nỗ lực to lớn để tìm kiếm phương pháp lồng ghép những chi phí môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia. Với những kỹ thuật hiện có, càng nhanh chóng đưa được những chi phí vào hệ thống tài khoản quốc gia thì sẽ càng tạo điều kiện tốt hơn cho môi trường, cho bản thân nền kinh tế và cho sự PTBV.

Những khó khăn, trở ngại

- Trong nhiều trường hợp, việc lồng ghép những chi phí môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia có thể làm giảm rất nhiều giá trị GDP, nên ít có chính phủ muốn công bố trước công chúng một báo cáo có những con số thấp kém.

- Một số nước vẫn coi các nguồn tài nguyên thiên nhiên là món quà cho không và không bao giờ cạn kiệt. Quan niệm sai lầm này dẫn tới việc các chính phủ và quần chúng nói chung tin rằng không cần thiết phải hạch toán các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

- Khó khăn trong việc thu thập các dữ liệu cần thiết và cách thức định giá nhiều sản phẩm và dịch vụ do môi trường cung cấp.

- Tại nhiều nước đang phát triển, những nguồn lực tài chính cần thiết và năng lực tổ chức đều thiếu thốn. Do vậy, việc đưa các chi phí môi trường vào tài khoản quốc gia là rất khó khăn.

- Những nhà hạch toán quốc gia, các nhà thống kê về môi trường và các nhà kinh tế tài nguyên thiên nhiên không chia sẻ quan điểm về sự cần thiết phải đưa các chi phí môi trường vào tài khoản quốc gia.

Giải pháp cần thiết

- Phổ biến thông tin có liên quan tới các chính phủ, cơ quan phát triển, văn phòng thống kê quốc gia, viện nghiên cứu, cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ và những nhóm hữu quan khác. Truyền đạt tính cần thiết và tính khả thi của việc cải cách hệ thống tài khoản quốc gia hiện có.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho các tranh luận công khai về những vấn đề phương pháp luận và việc áp dụng các chỉ tiêu kinh tế được hiệu chỉnh theo giá trị môi trường.

- Kết hợp việc hạch toán môi trường vào hệ thống tài khoản quốc gia và phát triển một cơ sở so sánh quốc tế để đánh giá khía cạnh kinh tế của tính bền vững. Bắt đầu hiệu chỉnh thu nhập quốc dân từ những sai lệch nghiêm trọng nhất.

- Tăng cường sự phối hợp giữa các tổ chức quốc tế trong các hoạt động nghiên cứu, dự án thử nghiệm, tập trung vào quy mô quốc gia hoặc khu vực và ứng dụng các chỉ tiêu kinh tế được hiệu chỉnh.

- Kết hợp việc thu thập dữ liệu môi trường với việc định giá bằng tiền ở mức có thể được và tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc đối thoại giữa các nhà khoa học, các nhà hạch toán quốc gia, các nhà kinh tế và các nhà thống kê môi trường.

- Hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và tổ chức cho các văn phòng thống kê quốc gia, bao gồm việc thu thập dữ liệu, sưu tập những hạch toán môi trường vật lý (đặc biệt là đối với những nguồn tài nguyên bị đe dọa nghiêm trọng nhất), giám sát môi trường, đào tạo các nhà hạch toán quốc gia, tiến hành các dự án thử nghiệm và cung cấp các trung tâm giám định ở cấp khu vực và tiểu khu vực.

- Đưa việc hạch toán môi trường vào các báo cáo và chiến lược PTBV quốc gia và sử dụng các chỉ tiêu kinh tế đã hiệu chỉnh cho quá trình ra quyết định và hướng dẫn chính sách kinh tế với quan điểm góp phần vào sự bền vững chung.

- Áp dụng kỹ thuật hạch toán môi trường ở các cấp kinh tế vĩ mô và quốc tế (trong việc phân tích lợi ích - chi phí của các dự án và trong tính toán cán cân thanh toán quốc tế).

Tiếp cận xây dựng bộ chỉ số PTBV

Đến nay trên thế giới đã hình thành một số tổ chức hỗ trợ quá trình xây dựng hệ thống (bộ) chỉ số PTBV ở mức quốc tế, đó là:

- Uỷ ban PTBV của Liên hợp quốc (United Nations Commission on Sustainable Development - UN/CSD). Ủy ban này đã hoàn thành thử nghiệm một bộ chỉ số mang tính hướng dẫn, các quốc gia có thể tham khảo trong quá trình lập báo cáo về PTBV của nước mình.

- Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development - OECD). Từ năm 1991, tổ chức này đã công bố một tập hợp sơ bộ những chỉ số môi trường và sau đó đã chỉnh lý nhằm phục vụ cho các báo cáo về môi trường của các nước. Gần đây OECD cũng xây dựng một số bộ chỉ số cho các ngành kinh tế và chỉ số PTBV nói chung.

- Uỷ ban châu Âu (European Commission - EC). Những năm gần đây EC đang xây dựng một bộ chỉ số chủ yếu về môi trường, phản ánh những thành tựu trong việc hòa nhập những cân nhắc môi trường trong chính sách ngành của EC, đặc biệt trong giao thông, năng lượng và nông nghiệp.

- Cục Môi trường châu Âu (European Environment Agency - EEA). Trong báo cáo hàng năm, EEA đã công bố các chỉ số môi trường và “các tín hiệu môi trường”, đồng thời xây dựng một khuôn khổ “Những đáp ứng đối với tác động sức ép (Driving forces Pressure State Impact Response – DPSIR) cùng với những chỉ số”.

Một vài đề xuất về nội dung bộ chỉ số PTBV

Các chỉ tiêu về kinh tế

Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Phân tích những chỉ số liên quan đến tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm (% GDP/năm), thu nhập bình quân GDP đầu người (theo cách tính truyền thống và theo sức mua tương đương - PPP). Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá (tỷ lệ nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trong GDP). Thuận lợi và khó khăn cho việc thực hiện mục tiêu PTBV. Vai trò của hệ thống đổi mới quốc gia trong chuyến giao, phát triển công nghệ.

Những khía cạnh của chất lượng phát triển kinh tế

Phân tích các chỉ số phản ánh khía cạnh chất lượng của quá trình tăng trưởng kinh tế theo hướng PTBV, như: Tỷ lệ đầu tư so với GDP, cán cân thương mại trong hàng hoá và dịch vụ, tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ lượng ODA tiếp nhận hàng năm trên giá trị GNP (GDP), mức chi (% GDP) cho bảo vệ môi trường, tỷ lệ sử dụng ODA cho PTBV...

Phát triển kinh tế với mô thức sản xuất và tiêu dùng

Phân tích những chỉ số liên quan đến mô thức sản xuất và tiêu dùng của xã hội, như: Cường độ sử dụng vật liệu, mức tiêu thụ năng lượng hàng năm theo đầu người, tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong năng lượng tiêu thụ, cường độ sử dụng năng lượng; sản sinh và quản lý chất thải (chất thải rắn công nghiệp và đô thị, chất thải nguy hiểm); quản lý chất thải phóng xạ... Kiến nghị những giải pháp thay đổi mô thức tiêu dùng phục vụ mục tiêu PTBV.

Các chỉ số phát triển xã hội

Dân số với mục tiêu PTBV

Phân tích những chỉ số liên quan đến cơ cấu và chất lượng dân số phục vụ mục tiêu PTBV, như: Tỷ lệ tăng dân số hàng năm, tỷ lệ tử vong của trẻ dưới 5 tuổi, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ dân sống ở đô thị và nông thôn, tỷ lệ di dân chính thức và phi chính thức tới đô thị, tháp dân số, tỷ lệ thất nghiệp (không có việc làm), tỷ lệ dân sử dụng phương tiện tránh thai...

Phát triển xã hội và bình đẳng giới

Phân tích những chỉ số liên quan đến thu nhập của người dân và bình đẳng giới, như: Tỷ lệ dân số sống dưới mức nghèo, chỉ số bất bình đẳng thu nhập Gini, diện tích nhà ở trên đầu người, tỷ lệ trung bình mức lương của nữ so với lương của nam, số lượng tội phạm trên 100.000 dân, thiệt hại kinh tế và con người do tai biến thiên nhiên gây ra.

Y tế và PTBV

Phân tích những chỉ số liên quan đến những khía cạnh y tế và chăm sốc sức khoẻ người dân, như: Tỷ lệ giường bệnh và bác sỹ trên 1.000 dân, tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em, tỷ lệ dân được hưởng các phương tiện xử lý nước thải, tỷ lệ dân được dùng nước sạch, tỷ lệ dân tiếp cận được hệ thống chăm sóc sức khoẻ ban đầu, tỷ lệ tiêm chủng phòng các bệnh dịch cho trẻ em...

Khoa học, giáo dục và thông tin phục vụ PTBV

Phân tích những chỉ số liên quan đến những khía cạnh giáo dục, nghiên cứu khoa học và thông tin truyền thông phục vụ PTBV, như: Tỷ lệ học sinh tiểu học, trung học phổ thông, tỷ lệ biết chữ của người dân (độ tuổi đi học), tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trên 10.000 dân, tỷ lệ chi hàng năm (% GDP) cho nghiên cứu - phát triển (R&D), tỷ lệ dân sử dụng Internet, tỷ lệ báo chí trên đầu người...

Các chỉ số về thể chế và điều hành phục vụ PTBV

Thể chế tham dự và vai trò của Quốc hội

Phân tích chức năng và vai trò của các cơ quan quyền lực (lập pháp), đặc biệt là Quốc hội trong việc đề xuất và xây dựng các thể chế PTBV trong những năm gần đây thông qua luật, chiến lược, chính sách về PTBV. Lưu ý những thành tựu và những trở ngại, như quá trình thực thi còn chậm; các quyền về lập pháp, hành pháp và tư pháp trong nhiều trường hợp chưa phân tách rõ ràng. Từ đây đề xuất chỉ số PTBV là: Tăng quyền lực và tính dân chủ trong phương thức làm việc của Quốc hội.

Thúc đẩy hội nhập quốc tế về hoạt động môi trường

Phân tích những kết quả đạt được và những trở ngại còn gặp trong quá trình hội nhập quốc tế về môi trường của Việt Nam, như tham gia vào các diễn đàn và thỏa thuận quốc tế về môi trường, thúc đẩy điều phối tài trợ. Lưu ý một số cản trở, như: Sự điều phối thực hiện các thoả thuận quốc tế còn hạn chế; viện trợ quốc tế về phát triển còn trùng lặp... Từ đây đề xuất chỉ số PTBV là: Mức độ cam kết và hội nhập tích cực vào các thoả thuận và diễn đàn quốc tế về môi trường.

Cải cách hành chính phục vụ PTBV

Phân tích những kết quả đạt được về cải cách hành chính phục vụ lĩnh vực bảo vệ môi trường và PTBV trong những năm gần đây, như: Thủ tục hành chính đã được cải thiện; cấu trúc hành chính đã có hiệu quả hơn; các dịch vụ công đã có tiến bộ về tính chuyên nghiệp và dân chủ. Phân tích những cản trở còn tồn tại, như: Sự liên kết ngang của các thể chế còn hạn chế; khung thể chế còn phức tạp và chưa linh hoạt; khung thể chế còn mang tính tập trung; việc lập kế hoạch và kiểm tra sự tiến bộ của công chức còn yếu; khả năng tiếp cận và tham dự của cộng đồng còn hạn chế. Từ đây đề xuất chỉ số PTBV là: Một hệ thống hành chính mở, trung thực và có năng lực.

Xây dựng các thể chế bảo vệ môi trường (BVMT)

Phân tích những kết quả đạt được về xây dựng các thể chế BVMT ở Việt Nam, như đã hình thành khuôn khổ thể chế BVMT, đội ngũ cán bộ môi trường, tài chính cho môi trường đã được tăng cường. Lưu ý còn tồn tại những cản trở đối với PTBV, như: Còn hạn chế về năng lực đội ngũ và nguồn lực để đáp ứng yêu cầu, còn thiếu cơ cấu liên kết ngang giữa các ngành. Từ đây đề xuất chỉ số PTBV là: Các thể chế BVMT phải được thiết lập và được thực thi hiệu quả, được đảm bảo nguồn lực ở mọi cấp, từ trung ương đến các ngành, địa phương.

Đến nay, các hoạt động nghiên cứu về xây dựng bộ chỉ số PTBV của nước ta đã thu được những kết quả cụ thể ban đầu, tuy còn rời rạc, chưa mang tính nhất quán. Đề nghị các cơ quan quản lý và nghiên cứu cần tổ chức triển khai tiếp một cách hệ thống và sớm quyết định chọn một phương án về bộ chỉ số PTBV của nước ta, cung cấp cơ sở cho việc đánh giá tình hình PTBV của cả nước, các ngành và các địa phương một cách khách quan và có tính định lượng.

Nguồn: tchdkh.org.vn, tháng 06/2006

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.
GS.VS. Châu Văn Minh: Tăng cường kết nối khoa học, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân
Ngày 25/10/2026, tại Hà Nội, GS.VS. Châu Văn Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam), đã tham dự và phát biểu tại Hội nghị khoa học “Cập nhật các tiến bộ mới trong quản lý bệnh tiêu hóa và gan mật”, kết hợp kỷ niệm 8 năm thành lập Viện Nghiên cứu và Đào tạo Tiêu hóa, Gan mật.
TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.