GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu: 'Tôi chưa bao giờ hết ham muốn học'
Nữ khoa học đầu tiên của Việt Nam nhận Giải thưởng Kovalevskaia, GS.TSKH. Phạm Thị Trân Châu chia sẻ, học tập là niềm đam mê, nhu cầu cuộc sống của bà.
GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu là một trong những nhà khoa học hàng đầu về sinh hóa của Việt Nam trong thế kỷ XX. Bà là nhà nữ khoa học đầu tiên của Việt Nam nhận Giải thưởng Kovalevskaia (1988), giải thưởng khoa học cao quý dành cho các nhà khoa học nữ thuộc lĩnh vực Khoa học tự nhiên và Toán. Trên cương vị Chủ tịch Hội Nữ trí thức Việt Nam, bà đã kết nối, tập hợp sức mạnh của đội ngũ nữ trí thức Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế tri thức của đất nước.

GS.TSKH. Phạm Thị Trân Châu. Ảnh: PNM.
NHÀ KHOA HỌC ĐẦU TIÊN CỦA VIỆT NAM NHẬN GIẢI THƯỞNG KOVALEVSKAIA
Trong hơn nửa thế kỷ gắn bó với khoa học, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu là tác giả và đồng tác giả của hàng trăm công trình nghiên cứu, nhiều đề tài cấp Nhà nước và cấp Bộ. Bà đồng thời là chủ biên, đồng tác giả nhiều giáo trình và sách chuyên khảo về Hóa sinh học, Công nghệ sinh học được sử dụng tại các trường đại học trên cả nước.
Tên tuổi của bà gắn liền với những nghiên cứu về enzyme và protein ở cấp độ phân tử, từ đó tạo ra những giá trị hữu ích cho sản xuất và đời sống.
Khi chứng kiến hình ảnh các bệnh nhi đau đớn mỗi lần thay băng tại Viện Bỏng Quốc gia, bà bà vô cùng trăn trở. Từ chồi dứa, một phế phẩm nông nghiệp gần như bị bỏ đi, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu và các cộng sự đã nghiên cứu tạo ra chế phẩm để chiết xuất enzym bromelain, tạo ra prozimabo. Chế phẩm này được sử dụng hỗ trợ làm sạch vết bỏng, giảm đau khi thay băng và góp phần thúc đẩy quá trình phục hồi tổn thương.
Cũng từ hướng nghiên cứu đó, chế phẩm Prozima ra đời, giúp thủy phân protein thịt bò thành bột dinh dưỡng dễ hấp thu. Trong bối cảnh những năm 1980, khi tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em còn phổ biến, đây được xem là một giải pháp bổ sung dinh dưỡng có ý nghĩa thực tiễn.
Bà và các cộng sự cũng đã phát triển ứng dụng enzym trong sản xuất nước mắm ngắn ngày, chế biến cá tạp thành bột cá phục vụ chăn nuôi, giúp nâng cao chất lượng bữa ăn người Việt và phát triển kinh tế.
Nông nghiệp là lĩnh vực ghi nhận nhiều thành quả nghiên cứu của GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu. Trước thực trạng nhức nhối về việc sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, bà và cộng sự bắt tay nghiên cứu thuốc trừ sâu sinh học.
Sau nhiều năm nghiên cứu các loài sâu gây hại trên rau màu và tìm kiếm nguồn nguyên liệu sinh học trong tự nhiên, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu cùng các cộng sự đã phát triển thành công chế phẩm thuốc trừ sâu sinh học Momosertatin (Mos) và chế phẩm MM. Đây là kết quả của các đề tài thuộc Chương trình Công nghệ sinh học cấp Nhà nước do bà chủ trì. Đến năm 2005, các chế phẩm này đã được thử nghiệm trên các ruộng rau su hào và bắp cải tại Mê Linh (Hà Nội), góp phần mở ra hướng bảo vệ cây trồng thân thiện hơn với môi trường.
Năm 1988, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu trở thành nữ khoa học đầu tiên của Việt Nam được trao Giải thưởng Kovalevskaia. Giải thưởng là sự ghi nhận cho những đóng góp của một nhà khoa học đã dành phần lớn cuộc đời theo đuổi các nghiên cứu nền tảng, đồng thời kiên trì tìm cách biến những kết quả nghiên cứu ấy thành các sản phẩm phục vụ y tế, nông nghiệp và đời sống.
HÀNH TRÌNH ĐẦY NGHỊ LỰC
GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu sinh năm 1938 trong một gia đình có truyền thống hiếu học ở Quảng Nam, từ nhỏ bà chịu nhiều ảnh hưởng từ người mẹ - cụ Lê Thị Hành. Cụ Hành là con út của nhà khoa bảng Lê Đỉnh, một vị quan triều Nguyễn nổi tiếng có tư tưởng canh tân, luôn đề cao việc học và khuyến khích con gái tiếp cận tri thức trong bối cảnh điều đó còn rất hiếm hoi.
Tuổi thơ của bà gắn liền với những năm tháng chiến tranh khốc liệt. Sau Cách mạng Tháng Tám và khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, cha bà rời Huế tham gia công tác giáo dục trong vùng kháng chiến. Mẹ bà một mình đưa bốn người con rời quê hương, vượt hàng trăm cây số tìm đến vùng tự do ở Bình Định. Hình ảnh người mẹ gánh hai em nhỏ trong đôi quang thúng, còn các con lẽo đẽo theo sau trên những chặng đường dài đã trở thành ký ức không thể phai mờ trong cuộc đời bà.

GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu chụp ảnh lưu niệm với các thầy trò Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội). Ảnh: HUS/
Những năm tháng ở vùng kháng chiến là chuỗi ngày thiếu thốn nhưng đầy nghị lực. Một mình nuôi bốn con nhỏ, cụ Hành làm đủ nghề để mưu sinh, từ gói bánh chưng, bánh ú đến làm bánh đậu xanh đem bán. Dù cuộc sống chật vật, cụ vẫn quyết tâm cho các con đến trường. Thấu hiểu sự vất vả của mẹ, cô bé Trân Châu vừa học vừa chăm em, bán hoa quả kiếm thêm thu nhập phụ giúp gia đình.
Cuộc sống khó khăn, thiếu thốn không dập tắt được quyết tâm học tập của cô bé Trân Châu. Bà là một trong số ít học sinh được chọn học lên cấp III tại ngôi trường hiếm hoi của Liên khu V thời bấy giờ. Sau Hiệp định Genève năm 1954, bà tập kết ra Bắc, tiếp tục học tại Trường Huỳnh Thúc Kháng (Nghệ An).
Năm 1956, khi Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội được thành lập, cô học trò từng lớn lên trong căn nhà tranh nơi vùng kháng chiến trở thành sinh viên khóa đầu tiên của ngôi trường đại học danh tiếng này. Đó cũng là bước khởi đầu cho hành trình hơn nửa thế kỷ gắn bó với khoa học của nữ giáo sư sau này.
Tốt nghiệp ngành Sinh học năm 1959, bà được giữ lại trường làm giảng viên. Năm 1974, bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ tại Đại học Tổng hợp Lodz (Ba Lan). Đến năm 1985, bà tiếp tục bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Khoa học tại Đại học Wroclaw, trở thành một trong những nhà khoa học Việt Nam tiên phong nghiên cứu chuyên sâu về Proteinaza và protein ức chế Proteinaza (PPI).
HỌC LÀ NIỀM ĐAM MÊ VÀ LÀ NHU CẦU CUỘC SỐNG
“Công việc mà tôi tâm đắc nhất và yêu thích từ thuở thiếu thời vẫn là giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Tôi chưa bao giờ ngừng và hết ham muốn học, đọc để nâng cao và cập nhật kiến thức cho mình. Đó là niềm đam mê, là nhu cầu cuộc sống của tôi”, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu chia sẻ.

GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu tại buổi Giao lưu khoa học “Đam mê – Nguồn sức mạnh” tại Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG HN). Ảnh: HUS.
Không chỉ nghiên cứu khoa học, GS.TSKH Phạm Thị Trân Châu còn đảm nhiệm nhiều vị trí công tác.
Bà là Chủ tịch đầu tiên của Hội Nữ Trí thức Việt Nam (2011–2021), nguyên Chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn Khoa học, Giáo dục và Môi trường của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Giám đốc đầu tiên của Trung tâm Công nghệ Sinh học – Đại học Quốc gia Hà Nội (1996- 2000), nguyên là Chủ nhiệm Bộ môn Hóa sinh, Khoa Sinh học, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội; nguyên Chủ tịch Hội Hóa sinh – Sinh học phân tử Việt Nam. Bà là Đại biểu Quốc hội khóa IX, khóa X (1992–2002).
Bà chia sẻ, khó khăn duy nhất của bà đó là khi phải đảm nhiệm nhiều việc khác nhau trong cùng một thời điểm là vấn đề thời gian. Tuy nhiên, bà luôn tâm niệm, đã đảm nhận việc gì thì phải làm tốt việc đó.
Một ngày có 24 giờ, cần sắp xếp công việc một cách hợp lý, khoa học, thậm chí bớt giờ nghỉ ngơi của chính mình là có thể giải quyết mọi việc.
Nhưng để có thể theo đuổi khoa học, vượt qua được những khó khăn đó, theo bà, điều cần thiết là phải có đam mê. “Tôi chỉ ngủ 3 đến 4 giờ mỗi ngày, còn lại tôi dành thời gian hết vào các thí nghiệm. Nếu không có niềm đam mê nghiên cứu khoa học, tôi nghĩ có lẽ tôi không thể làm tốt được”, bà chia sẻ.








