Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 24/07/2026 11:05 (GMT+7)

Giáo sư Đặng Văn Ngữ: Người trí thức chọn hy sinh vì đất nước

Ngày 1/4/1967, nhà khoa học Đặng Văn Ngữ cùng đồng đội hy sinh trong trận bom B52 tại chiến trường Trị - Thiên, khép lại cuộc đời tận hiến cho y học và Tổ quốc.

GS Đặng Văn Ngữ dành cả cuộc đời cho một sứ mệnh: dùng khoa học để cứu người. Ngày 1/4/1967, khi đang trên đường tìm lời giải cho căn bệnh sốt rét để bảo vệ người lính, ông đã hy sinh tại chiến trường Trị - Thiên Huế. Cuộc đời và sự nghiệp của ông trở thành biểu tượng về trí tuệ, lòng yêu nước và sự cống hiến của người trí thức Việt Nam.

tm-img-alt

GS Đặng Văn Ngữ làm việc tại phòng thí nghiệm ở Trường Y khoa Đông Dương Ảnh: Tư liệu.

CHỌN TRỞ VỀ PHỤNG SỰ TỔ QUỐC

Sinh ngày 4/4/1910 tại An Cựu (Huế), trong một gia đình nhà nho nghèo, BS Đặng Văn Ngữ sớm nổi tiếng học giỏi. Năm 1930, ông đỗ cả hai kỳ thi Tú tài bản xứ và Tú tài Pháp, nhận học bổng vào Trường Y - Dược thuộc Đại học Đông Dương.

Tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm 1937 với thành tích xuất sắc, ông trở thành người Việt Nam đầu tiên được giữ lại làm phụ giảng cho GS Galliard, Chủ nhiệm Bộ môn Ký sinh trùng. Từ đây, ông gắn bó trọn đời với lĩnh vực ký sinh trùng học.

Năm 1942, ông giữ cương vị Trưởng phòng Thí nghiệm Ký sinh trùng, đồng thời giảng dạy tại Ban Dược. Trong thời gian này, ông công bố 19 công trình nghiên cứu có giá trị về ký sinh trùng học, nhiều công trình được đánh giá cao ở phạm vi quốc tế.

Năm 1943, BS Đặng Văn Ngữ được cử sang Trường Đại học Y khoa Tokyo (Nhật Bản) nghiên cứu. Tại đây, ông tập trung nghiên cứu nấm, vi sinh vật gây bệnh. Trong giai đoạn 1947-1948, tại Quân Y viện 406 của Mỹ ở Nhật Bản, ông đã tìm ra giống nấm sản xuất penicillin, đồng thời công bố bốn công trình khoa học quan trọng.

Dù được nhiều cơ sở khoa học ở Nhật Bản, Pháp và Mỹ mong muốn giữ lại làm việc, năm 1949, hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông quyết định trở về nước. Hành trang mang theo chỉ có vài bộ quần áo, ống Souche Penicillium (giống Penicillium) và khát vọng dùng tri thức khoa học phục vụ nhân dân, đặt nền móng cho việc nghiên cứu, điều chế thuốc kháng sinh penicillin trong điều kiện kháng chiến.

“PHÒNG THÍ NGHIỆM” GIỮA CHIẾN KHU VÀ KỲ TÍCH PENICILLIN

Trở về nước năm 1949, BS Đặng Văn Ngữ nhận nhiệm vụ lên chiến khu Việt Bắc. Tại đây, được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh, được Bác động viên, khích lệ đã ảnh hưởng sâu sắc đến tinh thần yêu nước, nhân cách sống trong suốt cuộc đời làm khoa học của ông.

tm-img-alt

GS Đặng Văn Ngữ (giữa) trong một lần thuyết trình với Bác Hồ về môn Ký sinh trùng. Ảnh: Tư liệu.

Những năm 1950, giữa điều kiện nghiên cứu vô cùng thiếu thốn, ông xây dựng phòng labo dã chiến tại Việt Bắc, quyết tâm sản xuất kháng sinh phục vụ kháng chiến. Từ những nguyên liệu dễ kiếm như thân cây ngô, sắn, lương khô, ông nghiên cứu tạo môi trường nuôi cấy nấm, điều chế thành công penicillin dạng bột và “nước lọc” Penicillin.

Ông chia sẻ trong hồi ký: “Chúng tôi không ngồi đợi có đầy đủ phương tiện mới nghiên cứu. Không có bàn, chúng tôi bầy mễ làm việc. Cân chính xác thiếu, chúng tôi đo bằng lối so thể tích. Ống tre thay cho eprouvette, đĩa là boite de Pétri, cylinder chỉ là những ống sậy. Cứ như thế, chúng tôi cọc cạch làm việc…Ngày ngày tôi cấy hàng trăm cái nấm lấy ở ống giống ra để thử với vi trùng. Nhưng ngày nào cũng như ngày nào, vi trùng đều mọc quanh cái nấm chứng tỏ rằng nấm không còn có tác dụng nữa. Đêm đến, vấn đề nấm đeo đuổi tôi mãi không ngủ được...”.

“Nước lọc” Penicillin là sáng kiến có ý nghĩa đặc biệt, phù hợp với điều kiện chiến trường khi các cơ sở y tế có thể sản xuất và sử dụng để điều trị các vết thương nhiễm trùng. Thành quả này góp phần quan trọng trong công tác cứu chữa thương binh trong kháng chiến chống Pháp.

GS Tôn Thất Tùng, một trong những trụ cột của Trường Y trong kháng chiến, đánh giá việc tìm ra “nước lọc” Penicillin và khả năng ứng dụng của nó là một điều kỳ diệu. Ông nhấn mạnh:

“Mỗi chiến dịch, quân y đưa ra tiền tuyến một tổ Penicillin để sản xuất kháng sinh dùng ngay trên mặt trận. Đây là một thành tích kỳ diệu mà từ xưa đến nay, trong các cuộc chiến tranh du kích chưa ai làm được như vậy với những dụng cụ thô sơ, trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn”.

Với công trình nghiên cứu này, GS Đặng Văn Ngữ được Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng Huân chương Lao động hạng Ba, ghi nhận đóng góp đặc biệt của ông đối với nền y học cách mạng Việt Nam.

Ông cũng là một trong 45 Giáo sư đầu tiên của Việt Nam được Bác Hồ ký quyết định phong tặng vào năm 1955.

TRÁI TIM THẦY THUỐC NẰM LẠI GIỮA HÀNH TRÌNH TÌM VACCINE SỐT RÉT

Sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, GS Đặng Văn Ngữ tiếp tục dành trọn tâm huyết xây dựng ngành Ký sinh trùng Việt Nam. Ông đào tạo đội ngũ cán bộ, xây dựng mạng lưới phòng chống bệnh từ Trung ương đến cơ sở, đặt nền móng cho một chuyên ngành quan trọng của nền y học nước nhà. Năm 1957, ông sáng lập Viện Sốt rét - Ký sinh trùng và Côn trùng Trung ương, đồng thời là Chủ nhiệm Chương trình tiêu diệt sốt rét ở miền Bắc.

Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, sốt rét trở thành mối đe dọa lớn đối với bộ đội trên chiến trường Trường Sơn. Căn bệnh từng khiến nhiều chiến sĩ suy kiệt, thậm chí hy sinh trước khi kịp ra trận. Những thông tin về thương vong do sốt rét gây ra khiến GS Đặng Văn Ngữ day dứt. Ông nhận ra rằng, muốn bảo vệ lực lượng chiến đấu và giữ vững thành quả phòng chống sốt rét ở miền Bắc, cần phải tìm ra giải pháp hiệu quả hơn.

Năm 1967, khi đã 57 tuổi, GS Đặng Văn Ngữ quyết định vào chiến trường Trị - Thiên Huế để nghiên cứu vaccine phòng sốt rét cho bộ đội. Cùng 12 y, bác sĩ, ông mang theo khát vọng xây dựng một “vành đai miễn dịch” bảo vệ các chiến sĩ trên tuyến đường hành quân giữa hai miền Nam - Bắc.

Để chuẩn bị cho chuyến đi, ông rèn luyện như một người lính trẻ: tập mang ba lô 30kg, hành quân vượt dốc núi, học bắn súng, tập bò, rèn kỹ năng sinh hoạt, sơ cứu và bảo quản thiết bị nghiên cứu.

Nhưng vào một thời gian, đoàn nghiên cứu chưa kịp dựng lán trại riêng để triển khai công việc thì vào 14h ngày 1/4/1967, khu căn cứ phía Tây Thừa Thiên - Huế bị máy bay Mỹ ném bom B52. GS Đặng Văn Ngữ cùng các đồng nghiệp hy sinh. Người duy nhất sống sót trong đoàn là BS Trần Thị Lịch, do trước đó được ông cử đi nấu cơm.

BS Trần Thị Lịch nghẹn ngào kể lại trong một chia sẻ với báo chí: “Chỉ mới ít phút trước, thầy còn dặn dò tôi xuống hầm đúng giờ. Vậy mà giờ đây, thi thể thầy và đồng đội đã không còn nguyên vẹn, không còn có thể nói với tôi nên làm gì. Tất cả đã dừng lại, đã nằm lại mãi mãi nơi này”.

tm-img-alt

Tấm biển nhôm chôn cùng thi hài cố GS Đặng Văn Ngữ. Ảnh: Tư liệu.

Do điều kiện chiến trường, GS Đặng Văn Ngữ cùng các cán bộ trong đoàn nghiên cứu được an táng lặng lẽ tại một bãi đất bên sườn núi trong rừng sâu. Không bia mộ, không người chăm nom, mỗi phần mộ chỉ có một mảnh nhôm ghi tên và ngày hy sinh để đánh dấu.

Hơn 20 năm sau, năm 1995, hài cốt của ông được một người dân phát hiện trong gói vải dù cùng tấm biển nhôm ghi dòng chữ “Đặng Văn Ngữ 1/4/1967”. Do thiếu thông tin nhận diện, phần mộ được đưa về an táng tại nghĩa trang liệt sĩ xã Phong Mỹ (cũ), Thừa Thiên - Huế.

Tháng 8/2000, gia đình xác định được hài cốt GS Đặng Văn Ngữ và xin phép đưa ông về quê nhà. Tháng 12 cùng năm, ông được đưa về an nghỉ tại nghĩa trang họ Đặng trên núi Ngự Bình.

Gần 6 thập kỷ đã trôi qua, nhưng câu chuyện về GS Đặng Văn Ngữ vẫn là biểu tượng của một thế hệ trí thức Việt Nam: lấy khoa học làm sự nghiệp, lấy trách nhiệm với đất nước làm lý tưởng và sẵn sàng hy sinh khi Tổ quốc cần.

Ghi nhận những cống hiến của ông, năm 1996, GS Đặng Văn Ngữ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Tên của ông được đặt cho nhiều trường học, đường phố tại Hà Nội, TP HCM, Quảng Bình,...

Xem Thêm

Tin mới

GS.TS. Chu Phạm Ngọc Sơn: Một đời đưa tri thức khoa học vào thực tiễn
Cuốn sách “Giáo sư - Tiến sĩ Chu Phạm Ngọc Sơn, Nhà Giáo thanh cao, Nhà Khoa học tài năng, một nhân cách lớn” vừa được ra mắt tại TP. Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 90 năm ngày sinh của cố GS.TS Chu Phạm Ngọc Sơn. Ấn phẩm là sự tri ân đối với một nhà khoa học tiêu biểu – người đã dành trọn cuộc đời gắn tri thức khoa học với thực tiễn sản xuất, giáo dục và sự phát triển của đất nước.
Tạp chí Môi trường và Xã hội hưởng ứng phong trào xây dựng “Mái ấm bình yên”
Nhân kỷ niệm 81 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2026) và 21 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2026), ngày 18/8, Tạp chí Môi trường và Xã hội phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã Cái Nhum tổ chức lễ khởi công 2 căn nhà “Mái ấm bình yên” cho các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tư vấn, phản biện của VUSTA - Từ thực tiễn đến yêu cầu đổi mới
Từ thực tiễn tư vấn, phản biện Dự án khai thác và tuyển quặng mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh, có thể thấy rõ giá trị của việc huy động trí tuệ đa ngành, nhận diện rủi ro và cung cấp những luận cứ khoa học độc lập cho quá trình xem xét, quyết định. Đây cũng là cơ sở để nhìn nhận những yêu cầu đổi mới hoạt động tư vấn, phản biện của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) hiện nay.
Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam Phạm Ngọc Linh dự diễn tập bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp
Ngày 18/8/2026, tại xã Nghĩa Trụ, tỉnh Hưng Yên, Hội Hàng không - Vũ trụ Việt Nam tổ chức Chương trình diễn tập thực chiến bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian tầm thấp. PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tham dự chương trình.
Quảng Trị: Bảo tồn và phát huy giá trị nền y học cổ truyền dân tộc
Sáng 17/8, Hội Đông y tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Hội Đông y Việt Nam (22/8/1946-22/8/2026). Đến dự có đại diện lãnh đạo Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh, Sở Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, cùng đông đảo cán bộ, hội viên Hội Đông y trên địa bàn tỉnh.
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng AI”
Sáng 17/8, tại phường Yên Bái, tỉnh Lào Cai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Lào Cai phối hợp với Trung tâm Phát triển Khoa học công nghệ và Chăm sóc sức khỏe cộng đồng và Câu lạc bộ Trí thức trẻ tỉnh Lào Cai tổ chức Hội thảo chuyên đề “Cùng nhau an toàn trên không gian mạng thời đại trí tuệ nhân tạo AI”.
Đắk Lắk: Sức sáng tạo tuổi trẻ đối với hoạt động khoa học công nghệ
Ngay sau Đại hội Liên hiệp Hội tỉnh Đắk Lắk lần thứ I, nhiệm kỳ 2026–2031, hoạt động chuyên môn đầu tiên được triển khai là chấm sơ khảo Cuộc thi Sáng tạo dành cho thanh thiếu niên và nhi đồng lần thứ I năm 2026. Với 170 mô hình tham gia, cuộc thi cho thấy sức sáng tạo phong phú của tuổi trẻ, nhất là ở những lĩnh vực gắn với công nghệ, phát triển kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.