Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 23/08/2007 00:57 (GMT+7)

Vua Minh Mạng với tư tưởng "Củng cố nền thống nhất quốc gia"

Việc Minh Mệnh có làm được một Lê Thánh Tông của triều Nguyễn hay không, còn phải có thời gian để minh định. Nhưng sự thật là trong 20 năm ở ngôi, Minh Mệnh đã làm được nhiều việc. Không thể phủ nhận: Nước Đại Nam dưới triều Minh Mệnh có một cương vực rộng lớn nhất từ trước đến cuối thế kỷ XIX, cũng là mạnh nhất so với các triều vua khác của triều Nguyễn.

Gia Long khi sáng lập vương triều Nguyễn vào năm 1802, lần đầu tiên đất nước Việt Nam thống nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Nhưng đó là sản phẩm của lịch sử để lại, đất nước ngày đó còn chứa đựng nhiều hậu quả của sự chia cắt, phân liệt của những thế kỷ trước. Gia Long rất hiểu những hạn chế đó, song do nhiều nguyên nhân: vì tuổi già sức yếu, vì việc phải chia quyền hành cho các ông “Công thần trung hưng”… nên ông không thể làm khác được những gì ông đã làm với lịch sử, đối với việc củng cố nền thống nhất quốc gia.

Đến Minh Mênh, yêu cầu củng cố nền thống nhất quốc gia trở nên cấp bách. Tư tưởng chính trị này luôn thường trực ở Minh Mệnh và biểu hiện trên các mặt: vấn đề thống nhất gắn liền với vấn đề toàn vẹn lãnh thổ, còn gắn liền với vấn đề tập trung quyền lực về trung ương, không chấp nhận sự phân quyền, chia quyền.

Vấn đề toàn vẹn lãnh thổ dường như là vấn đề được Minh Mệnh đặc biệt quan tâm. Minh Mệnh đã tăng cường xác lập chủ quyền Việt Nam ở các hải đảo, vùng biển và miền biên giới xa xôi. Đối với quần đảo Trường Sa, trước đó, từ tháng tư năm Tân Mão (1711), đời chúa Nguyễn Phúc Chu đã sai “đo bãi cát Trường Sa dài ngắn, rộng hẹp bao nhiêu” (2), nhưng tới nay Minh Mệnh lại tiếp tục khẳng định chủ quyền của triều đỉnh ở vùng đảo này. Đối với quần đảo Hoàng Sa, thì vào tháng bảy năm Giáp Tuất (1754), đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, sử nhà Nguyễn chính thức ghi chép về quần đảo này như sau: “Ở ngoài biển, về xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi có hơn 130 bãi cát cách nhau hoặc đi một ngày đường, hoặc vài trống canh, kéo dài không biết mấy nghìn dặm” (3). Đến đời Minh Mệnh, ông tiến thêm một bước trong việc xác lập chủ quyền bằng cách cho “lập miếu trồng cây ở đảo Hoàng Sa (Quảng Ngãi” (4).

Năm Minh Mệnh thứ 14 (1833), ông bắt đầu cho đặt pháo đài ở đồn Phú Quốc thuộc tỉnh Hà Tiên. Trước đây, đảo Phú Quốc dân ở đông đúc nhưng là nơi trú ẩn, nương náu của bọn cướp biển. Chúng hoạt động lúc ẩn lúc hiện, tấn công cướp bóc nhân dân trên đảo và thuyền bè qua lại vùng này. Đến đây, Minh Mệnh sai quân tỉnh chọn chỗ đặt pháo đài ở Phú Quốc để phòng thủ cho nghiêm cẩn” (5).

Một hạn chế lớn đối với việc tập trung quyền lực của chính quyền trung ương cũng có ý nghĩa ảnh hưởng tới việc thống nhất quốc gia trong lịch sử - chế độ phong kiến Việt Nam, đó là việc bỏ trống quyền lực tại các vùng dân tộc thiểu số, không chỉ là vấn đề có tính chất nội trị, mà quan trọng hơn, nó liên quan tới biên cương của tổ quốc, đó còn là vấn đề đối ngoại. Trước đời Minh Mệnh, kể từ triều Lý, Trần, Lê, Tây Sơn cho đến đời Gia Long, triều đình trung ương đều sử dụng biện pháp “kimi” (ràng buộc lỏng lẻo): gả công chúa cho các tù trưởng thiểu số, hoặc phong quan tước và để cho họ có quyền thế tập, tự cai trị. Mặc dù các triều đại phong kiến đều hiểu rất rõ tính chất nghiêm trọng của vấn đề biên cương, vấn đề đối với dân tộc thiểu số, nhưng do hạn chế của lịch sử (mà chủ yếu triều đình trung ương Đại Việt bấy giờ chưa đủ mạnh) nên không thể vươn tay nắm chắc các vùng đất quan yếu này.

Đến triều Minh Mênh, tình hình đã khác, ông không thể chấp nhận sự “chân không quyền lực” tại vùng đất dân tộc thiểu số mà theo ông, đó là những thành phần lãnh thổ không thể tách rời khỏi đất nước Đại Nam thống nhất. Trong lĩnh vực này, một lần nữa, chúng ta lại thấy khả năng suy đoán của Minh Mệnh và tài chính trị của ông. Biện pháp của ông là: từng bước, từng bước từ chỗ hạn chế quyền lực của tù trưởng thiểu số, tiến tới chỗ thủ tiêu quyền hành của họ. Từ năm Minh Mệnh nguyên niên (1802) đến năm thứ 9 (1828), ông tiếp tục các biện pháp truyền thống: vừa phủ dụ ban tước, vừa dùng vũ lực đàn áp các cuộc nổi dậy của tù trưởng. Đến năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), ông chính thức ban bố bỏ lệ thế tập tù trưởng thiểu số (6). Vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), triều đình ban bố cac quy định đặt chức thổ quan trị huyện, tri châu, xã quan tại vùng dân tộc thiểu số.

Trong các dân tộc thiểu số vùng phía Bắc Việt Nam, thì dân tộc Mường Hoà Bình và miền tây Thanh - Nghệ là đông người hơn cả, do vậy, quyền lực của các lang cun, lang đạo ở đây rất lớn mạnh. Chỉ nói riêng vùng Mường Hoà Bình, từ lâu đời đã hình thành 4 mường với quyền lực về chính trị, kinh tế rất mạnh là “Bi - Vang - Thành - Động”. Minh Mệnh đã kiên quyết xoá bỏ các đơn vị hành chính “mường” nói trên. Ông cho chia nhỏ ra các huyện, các xã như vùng đất khác. Bằng biện pháp rất cương quyết, Minh Mệnh đã “hạ cấp” các lang cun, lang đạo xuống chỉ còn như các tri huyện, xã trưởng. Với các biện pháp trên, Minh Mệnh không chỉ hạn chế nhằm tiến tới xoá bỏ quyền lực của thổ tù, tù trưởng vùng dân tộc thiểu số, mà còn nhằm mục đích quan trọng hơn là xoá bỏ lãnh vực, địa bàn cư trú cổ truyền của họ, cũng chính là thủ tiêu nguồn gốc tạo nên quyền lực truyền thống đó.

Nhưng một chính sách mạnh mẽ, quan trọng hơn cả của Minh Mệnh đối với vùng dân tộc thiểu số, đã giáng một đòn mạnh vào xu thế cát cứ, phân quyền là chế độ “lưu quan” (7) được ban bố và thi hành từ năm Minh Mệnht hứu 16 (1835) trở về sau. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử chế độ phong kiến, Minh Mệnh thủ tiêu chế độ thổ quan, chính thức bổ quan lại của triều đình lên cai trị trực tiếp các châu, huyện vùng dân tộc thiểu số.

Nhưng theo tôi, tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia được thể hiện cụ thể và rõ nét hơn cả trong cuộc cải cách hành chính do Minh Mệnh thiết kế và tổ chức thực hiện. Từ năm đầu lên ngôi đến năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), ông từng bước hoàn thiện bộ máy hành chính tại trung ương và các địa phương trong cả nước. Và cũng có thể coi cuộc cải cách đơn vị hành chính từ trấn đổi sang tỉnh (chia cả nước thành 30 tỉnh: 10 tỉnh lớn, 10 tỉnh vừa và 10 tỉnh nhỏ) vào 2 năm Minh Mệnh thứ 12 (1831 - ở các tỉnh miền Bắc) và Minh Mệnh thứ 13 (1832 - ở các tỉnh miền Nam) thì quá trình củng cố nền thống nhất quốc gia từ triều Tây Sơn đến đây, về cơ bản đã hoàn tất. Trong một lời dụ cho đình thần, trước khi tiến hành các cuộc cải cách này, Minh Mệnh đã chính thức bộc lộ tư tưởng thống nhất quốc gia của mình: “Việc phong tước, dựng quan chức, là chính thể lớn của triều đình, quốc gia ta xây dựng nền tảng ở phương Nam, các trấn đều đã đặt quan chức làm việc. Hoàng khải thế tổ cao hoàng đế ta khi thống nhất đất nước (8) thì 11 trấn Bắc thành mới tạm đặt một đại diện cai trị, phàm việc cai trấn trực thuộc đều phải trông đến, đó là bậc thánh minh mưu đồ sâu xa, muốn một phen cải định lại nhưng chưa kịp làm.

Nay trẫm theo chí ngài, lại nghĩ đến các việc kiện tụng và binh lương trong các thành, các hạt còn phức tạp nhiều, tất phải theo từng hạt, chia người giữ các việc để có chuyên trách, các người nên ban định tâu lên” (9). Tư tưởng này còn được Minh Mệnh thể hiện trong cách dùng người. Một lần, nhân viên Giám sát ngự sử đạo An - Tĩnh Nguyễn Bá Chi tâu về việc: Trong số quan lại địa phương, phần nhiều phân biệt Nam, Bắc. Số quan lại gốc miền Nam kinh thị, lấn lướt số quan lại quê ở miền Bắc. Minh Mệnh đã nghiêm khắc dụ rằng: “Ta từ khi lên ngôi đến nay, dùng người làm việc giữ một lòng công, nào có kỳ thị bao giờ. Nay thống nhất một nhà, sách cùng văn tự, xe cùng bánh chính là vận hội phong hóa cộng đồng. Bộ, Viện và Nội các ở Kinh, các trực và các tỉnh ở ngoài, từ trước đến nay, người Nam, người Bắc miễn có tài đều được dùng, muốn cho họ gom công, góp sức, kính cẩn giúp việc. Đến như truất bỏ hay thăng chức chỉ nhằm vào người có công hay có tội, chứ chẳng vì Bắc hay Nam mà đối xử khác nhau. Thế mà có một vài lũ xấu xa, nảy sinh ý kiến càn bậy” (10).

Tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia là tư tưởng đặt ra thường xuyên và cấp thiết ở mọi triều đại phong kiến trung ương tập quyền của Việt Nam . Bởi lẽ, tư tưởng này có ảnh hưởng trực tiếp tới sự toàn thịnh của bất kỳ triều đại phong kiến nào. Và, cũng có nghĩa tư tưởng ấy được thực hiện đến mức độ nào thì sức mạnh của đất nước được tăng cường tới mức độ đó.

Có thể nói một cách khái quát: Tư tưởng thống nhất quốc gia từ Mục Nam Quan tới Mũi Cà Mau được hình thành và bắt đầu thực hiện ngay dưới triều Tây Sơn. Nhưng công cuộc thống nhất quốc gia mà Tây Sơn thực hiện chưa được bao lâu thì chính Nguyễn Nhạc đã phá bỏ thành quả đó bằng việc chia đất nước thành 3 vùng đất: tự mình là Trung ương hoàng đế, cai trị miền Trung, phong cho Nguyễn Huệ là Bắc bình vương cai trị miền Bắc và Nguyễn Lữ làm Đông định vương cai trị miền Nam. Gia Long khi sáng lập triều Nguyễn, một lần nữa ông tái lập nền thống nhất quốc gia. Nhưng sự thống nhất dưới triều Gia Long (1802 - 1819) mới chỉ dừng lại ở sự thống nhất về mặt lãnh vực địa vị hành chính: Trấn Bắc thành (bao gồm 11 trấn) và trấn Gia Định (bao gồm 6 trấn) với hai viên tổng trấn có quyền hành rất lớn như một vị phó vương, trong thực tế đã nuôi dưỡng tư tưởng cát tứ.

Theo tôi, sự nghiệp thống nhất đất nước được đặt ra và thực hiện vào cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX là một qúa trình. Quá trình này có thể chia ra làm 3 giai đoạn, gắn liền tên tuổi của ba nhân vật lịch sử - ba vị hoàng đế: Quang Trung - Gia Long - Minh Mệnh. Ở mỗi giai đoạn, mỗi nhân vật nói trên đều có công đối với sự nghiệp thống nhất, có lẽ chẳng nên quy công cho riêng một người nào. Phải chăng: Quang Trung là người đặt nền móng. Gia Long là người tiến hành xây dựng những điều kiện cần thiết và cuốic ùng, Minh Mệnh là người hoàn tất quá trình thống nhất quốc gia đó.

Như vậy, tư tưởng củng cố nền thống nhất quốc gia của Minh Mệnh không phải là sản phẩm của riêng ông mà tư tưởng đó xét về nguồn gốc sâu xa là của lịch sử trao gửi nơi ông. Cái điều may mắn là Minh Mệnh đã thực hiện khá thành công những gì ông suy nghĩ trên lĩnh vực thống nhất quốc gia này.

(1)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, Nxb KHXH, Hà Nội, tập X, tr. 203.

(2)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục tiền biên, Nxb Sử học, Hà Nội, 1962, tập 1, tr. 172.

(3)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục tiền biên, sđd, tập 1, tr. 222.

(4)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, sđd tập IX, tr. 53.

(5)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, Nxb KHXH, Hà Nội, tập XI, tr. 65 - 66.

(6)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục chính biên, sđd tập IX, tr. 248, 249.

(7)   Lưu quan: là một danh từ để đối lại với thổ quan chỉ số quan lại được triều đình bổ nhiệm có thể thay đổi bất kỳ lúc nào. Thuật ngữ lưu quan có nguồn gốc từ cải thổ quy lưu mà ra, có nghĩa: thay đổi thổ quan bằng lưu quan (Từ Hải, trng 599).

(8)   Nguyên văn: “hoàng khảo thế tổ Cao hoàng đế hỗn nhất khu vũ…” Minh Mệnh chính yếu, tập 1, Sài Gòn, 1972, tr. 369 (phần chữ Hán).

(9)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Minh Mệnh chính yếu, tập 1, Sài Gòn, 1972, tr. 203, 204.

(10)   Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại nam thực lục chính biên, sđd tập XVII, tr. 182.

Nguồn: Xưa & Nay, số 286, 6 - 2007, tr. 32

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Đầu tư khoa học công nghệ giải quyết điểm nghẽn của ngành Thủy sản Việt Nam
Phát biểu tại Hội nghị khoa học công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến đã nhấn mạnh sự cần thiết của đổi mới sáng tạo khoa học công nghệ trong giải quyết điểm nghẽn về logistics, môi trường, nâng cao sức cạnh tranh của ngành Thủy sản trong nước.
Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng nhận danh hiệu Giáo sư danh dự Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga
Sáng 30/4/2026, tại Trường Đại học Năng lượng Moskva, Liên bang Nga (MPEI), TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã vinh dự đón nhận danh hiệu Giáo sư danh dự của MPEI. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng là công dân đầu tiên của Việt Nam được trao tặng danh hiệu Giáo sư tại MPEI, đứng trong bảng danh dự cùng với các nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới.
51 năm thống nhất đất nước: Khơi thông nguồn lực tri thức trong kỷ nguyên mới
Thông tấn xã Việt Nam giới thiệu bài phỏng vấn với Phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) về vai trò của lực lượng trí thức và những giải pháp đột phá để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2030 và 2045.
Phát huy vai trò nòng cốt của trí thức KH&CN tỉnh Cà Mau
Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031 tổ chức thành công thực sự đã mở ra một không gian mới để hội tụ sức mạnh, tâm huyết và trí tuệ của đội ngũ trí thức tỉnh nhà, định hình con đường kiến tạo và phát triển trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Công bố Quyết định bổ nhiệm Giám đốc, Tổng biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức Hội nghị Công bố quyết định về công tác cán bộ. Tại hội nghị, TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch VUSTA đã trao Quyết định bổ nhiệm bà Bùi Thị Thu Hằng, Phó Giám đốc phụ trách, Phó Tổng biên tập NXB Tri thức giữ chức vụ Giám đốc, Tổng biên tập NXB Tri thức.
Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành tháng 4/2026
Ngày 28/4, tại Hà Nội, Đảng bộ Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (LHHVN) tổ chức Hội nghị Ban Thường vụ - Ban Chấp hành nhằm đánh giá kết quả công tác, đồng thời triển khai các nhiệm vụ trọng tâm, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong công tác xây dựng Đảng và chuẩn bị cho Đại hội LHHVN nhiệm kỳ mới.
Nâng tầm sức mạnh văn hóa vùng Đất Tổ - Động lực quan trọng cho phát triển bền vững
Phát triển văn hóa và con người là nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh, động lực cho phát triển nhanh bền vững. Quan điểm đó tiếp tục được khẳng định mạnh mẽ trong Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị. Nghị quyết nhấn mạnh văn hóa phải thấm sâu vào đời sống xã hội, gắn kết hài hòa với chính trị, kinh tế, môi trường, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I
Ngày 23/4, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cà Mau lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã thành công tốt đẹp. Chủ tịch VUSTA Phan Xuân Dũng chúc mừng, đánh giá cao những nỗ lực rất lớn của Liên hiệp Hội tỉnh, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh TVPB, ĐMST&CĐS, lan tỏa tri thức KH&CN, phục vụ trực tiếp đời sống người dân địa phương.