Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 29/08/2008 00:05 (GMT+7)

Vô sinh tạm thời ở bò sữa và biện pháp can thiệp

Trong thực tế, quá trình sinh sản của bò sữa bị tác động bởi nhiều nguyên nhân, nhất là đối với những bò cái sữa có tỉ lệ máu ngoại cao, nếu nuôi dưỡng quản lý không đúng, cho nhiều thức ăn tinh rất dễ dẫn đến rối loạn sinh sản (Nguyễn Xuân Trạch, 2007). Ngoài ra, có một số nguyên nhân phát sinh từ sau khi sinh bê, dẫn đến hiện tượng vô sinh ở bò sữa. Những trục trặc này đưa lại hậu quả trước tiên làm cho bò không động dục. Xin điểm qua một số hiện tượng dễ xảy ra ở bò sữa sau khi sinh.

1. Sát nhau và sót nhau

Bò cái nói chung (bò sữa nói riêng) sau khi đẻ bê khoảng 6-8 giờ thì nhau phải ra hết. Nếu đến 12 giờ (thậm chí 24 giờ) mà nhau thai vẫn chưa ra xong, được gọi là sát nhau. Nếu nhau ra không nguyên vẹn (không đủ), là sót nhau. Trong cả 2 trường hợp, nếu không can thiệp, nhau sẽ thối, gây nhiễm trùng tử cung, không thụ thai được ở lần phối giống tiếp theo. Theo tài liệu nhiều nước, tỉ lệ sót nhau trong đàn bò sữa không được vượt quá 8%.

Yếu tố gây sát nhau:

(1) Do bệnh nhiễm trùng đặc biệt (sẩy thai truyền nhiễm, xoắn khuẩn leptô, campylobacter, viêm mũi - phế quản truyền nhiễm). Những bệnh này có thể gây sẩy thai và cũng có thể gây sát nhau sau khi bò mẹ đẻ. Theo tài liệu của Dự án bò sữa Việt - Bỉ (2007) tỉ lệ bò sẩy thai khoảng 3-5%; (2) Những bệnh nhiễm trùng không đặc biệt do hàng loạt vi khuẩn và virus gây nên trong quá trình mang thai hoặc khi đẻ; (3) Đẻ song thai, đẻ khó (kể cả thời gian đẻ kéo dài), đẻ mổ; (4) Khẩu phần nuôi dưỡng thiếu thức ăn thô xanh, thiếu selen (Se), thiếu vitamin A hoặc vitamin E, quá dư thừa mức năng lượng ăn vào; (5) Thời gian cạn sữa kéo dài quá quy định.

Biện phápkhắc phục:

* Nếu dương tính với những bệnh nhiễm trùng đặc biệt (kiểm tra máu, nuôi cấy vi khuẩn), áp dụng những biện pháp khống chế được Thú y chỉ định.

* Giữ cho nơi đỡ đẻ bê và độn chuồng được sạch.

* Cho bò cái tơ phối giống vớibò đực có mẹ đẻ dễ. Chú ý những bò đẻ con so. Nếu cần hỗ trợ sinh sản, phải tiến hành trong đều kiện sạch sẽ, cẩn thận.

* Về ăn uống, vận động: Đảm bảo lượng thức ăn thô xanh cho bò chửa đạt khoảng 10% khối lượng cơ thể (ví dụ bò nặng 250kg, toàn bộ lượng thức ăn xanh mỗi ngày cần 23-27kg). Nếu không đủ thức ăn xanh, phải bổ sung cỏ khô, rơm khô (1kg cỏ khô/rơm khô tương đương 3-4kg cỏ xanh). Hạn chế thức ăn tinh: dưới 20% khẩu phần (tính theo vật chất khô). Bổ sung Selen vào khẩu phần nếu ở những khu vực nuôi bò mà trong đất bị thiếu Se. Bổ sung vitamin A và E và Se theo yêu cầu. Cho bò chửa uống đủ nước sạch (40-60 lít/con/ngày). Trong thời gian bò mang thai, hàng ngày cho bò vận động nhẹ nhàng để tránh đẻ khó dẫn đến sát/sót nhau.

* Tránh cho bò cái có thời gian cạn sữa kéo dài quá quy định (thường chỉ nên 50-70 ngày). Giữ cho bò cạn sữa có điểm thể trạng bình thường (khoảng 3-3,5 điểm).

Can thiệp:Nên can thiệp sớm, nếu để quá 24 giờ, hiệu quả sẽ kém.

+Hạn chế bóc nhau vì bóc nhau dễ dẫn đến tổn thương nội mạc tử cung.

+Gây kích thích co bóp tử cung để đẩy nhau ra ngoài. Vi dụ: (1) Tiêm dưới da oxytocin 30-40UI (6-8ml) hoặc pituitrin, stilbestro, sinestrol: (2) Tiêm các dẫn xuất Prostaglandin (Lutalyse, Estrumate, Dinoprost: ≈25mg/bò) và tiêm kháng sinh để chống nhiễm trùng (Penicillin: 300.000UI +Streptomycin: 0,3mg; hoặc Ampicillin: 500mg). (3) Thụt dung dịch Lugol (30-50ml) vào trong tử cung; (4) Nếu tử cung mất trương lực: tiêm estrogen (tiêm bắp/dưới da, 5-10ml), sau 2-3 giờ, tiêm oxytocin (tiêm bắp/dưới da, 3-5ml) hoặc pituitrin

2. Viêm tử cung

Tỉ lệ bò sữa viêm tử cung có thể đến 20- 25% (VCN, 2007). Dịch thải từ tử cung kéo dài quá 2 tuần hoặc có mùi hôi hám (cổ tử cung luôn mở). Có 3 thể viêm tử cung: viêm nội mạc, viêm cơ và viêm tương mạc. Viêm cơ tử cung là do kế phát của viêm nội mạc và viêm tương mạc là kế phát của viêm cơ tử cung. Khi đã viêm đến tương mạc thì rất khó chữa khỏi, dễ dẫn đến vô sinh vĩnh viễn.

Yêu tố gây viêm nội mạc tử cung:

(1) Bò sát nhau gây thối hoặc nhiễm trùng đường sinh dục rồi lan vào tử cung; (2) Tổnthương đường sinh sản vì đẻ khó hoặc lôi kéo thai bê quá mạnh khi đỡ đẻ (đường sinh dục có thể bị tổn thương khi dẫn tinh hoặc thụt rửa tử cung); (3) Trong khẩu phần ăn thiếu Selen và vitamin E.

Biện pháp khắc phục:

Viêm nội mạc tử cung Cata cấp tính có mủ: Thụt rửa bằng dung dịch sát trùng (rivanol 0,1%, axit boric 3%, thuốc tím 0,1%, lugol 0,1%). Sau khi thụt, bơm kháng sinh tố (penicillin 1 triệu UI +streptomycin 1g +nước cất 50ml).

Viêm nội mạc tử cung màng giả: Không thụt rửa tử cung. Têm kích thích co bóp cơ tử cung để thải dịch viêm ra (oxytocin, pituitrin, ergotamin, PGF 2a hoặc các dẫn xuất) rồi dùng kháng sinh tố (mỡ, viên, hỗn hợp) đặt trực tiếp hoặc xoa lên niêm mạc tử cung. Vừa đều trị cục bộ (kháng sinh tố) vừa trợ lực (glucose, cafein, B1).

Giữ vệ sinh chỗ nằm của bò mẹ, không cho bò lành tiếp xúc với bò ốm. Bổ sung Selen và vitamin E vào khẩu phần

3. Viêm vú

Bệnh phát sinh ở nhiều loại gia súc, với bò sữa thường xảy ra sau khi đẻ. Khoảng 95% viêm nhiễm là do các loại vi khuẩn (lây truyền qua tay, máy vắt sữa) S.agalactiae, S. aureus, S.dysgalactiae, S. uberis,Mycoplasma.5% trường hợp còn lại là do những vi khuẩn khác (http://edis.ifas.uft.edu/pdffiles).

Bệnh còn do vi khuẩn trong môi trường gây nên, như E.coli(có trong phân, nước thải và chất độn chuồng bẩn), S. uberis(có ở khắp nơi, trong dạ cỏ, phân, cả ở bầu vú).

S.agalactiaetồn tại trong bầu vú khá lâu, mẫn cảm với penicillin. S. aureuscó trong bầu vú, trên da những bò viêm vú, mẫn cảm vừa phải với kháng sinh tố (bò già bị viêm vú thường không đáp ứng với điều trị). S.dysgalactiaemẫn cảm vừa phải với kháng sinh tố. Mycoplasmakhông chịu tác động của nhiều loại kháng sinh tố. E.colikhông mẫn cảm với kháng sinh tố. Mỗi loại vi khuẩn có đặc thù riêng nên việc đều trị viêm vú rất phức tạp.

Bệnh gây thiệt hại về kinh tế vì sữa biến chất, phải loại bỏ.

Yếu tố gây viêm vú.

Bệnh do nhiều nguyên nhân, như nhiễm khuẩn trong khi vắt sữa, kế phát của sát nhau, viêm tử cung, sốt sữa, vắt sữa không kiệt, bại liệt sau đẻ, ngộ độc thức ăn.

Chẩn đoán:

(1) Kiểm tra số tế bào thể (phương pháp CMT - California Mastitis Test): vắt sữa của từng núm vú vào một khay có 4 giếng, rót dung dịch CMT vào và đánh giá theo bảng sau:

(2) Kiểm tra bằng thiết bị Draminski đo độ dẫn điện của sữa: vắt sữa của từng núm vú vào thiết bị và đọc kết quả độ dẫn điện.

* Số đọc dưới 250 đơn vị: nhiễm bệnh nghiêm trọng, đang tiến triển nhanh từ trạng thái cận lâm sàng chuyển sang lâm sàng. Cần điều trị gấp

* Số đọc trên 300 đơn vị: Mẫu sữa có chất lượng tốt

* Số đọc giữa 250 và 300 đơn vị: báo trước có sự viêm nhiễm. Cần đều trị

Biện pháp khắc phục:

(1) Phòng bệnh:

* Tuân thủ quy trình vắt sữa (bằng tay, bằng máy). Sau mỗi lần vắt sữa, cần nhúng núm vú vào các dung dịch phòng viêm vú (nhiều dung dịch rất hiệu quả, như Iodin (0,1 ; 0,5 và 1.0%),hypochlorite 4%, Na hydroxide < 0,05%).

* Đề phòng viêm vú ngay sau lần vắt sữa cuối cùng trước khi bắt đầu cạn sữa: lau núm vú bằng bông cồn, bơm penicillin và dihydrostreptomycin (nên dùng loại tan chậm) (hoặc cloxacillin) liều cao vào trong vú (không sợ dư cặn thuốc vì sau đó không vắt sữa nữa), rồi lau sạch núm vú và nhúng vào dung dịch nhúng núm vú.

(2) Điều trị:tùy theo thể viêm mà can thiệp

* Thể fibrin: Giảm các loại thức ăn tinh, nhiều nước, nhiều nhựa. Tăng số lần vắt sữa trong ngày. Xoa bóp cẩn thận bầu vú. Bơm kháng sinh vào lá vú viêm. Tiêm bắp kháng sinh. Trợ lực cho con vật.

* Thể có mủ: Cần loại trừ vi khuẩn ra khỏi tuyến vú. Tăng số lần vắt sữa: ban ngày cứ 2-3 giờ vắt 1 lần, ban đêm cứ 6 giờ vắt 1 lần. Bơm vào tuyến vú (200-250ml): rivanol 1/2000, thuốc tím 1/300-1/500 (vắt kiệt sữa trước khi bơm).

* Thể có máu: Không thả chăn để tránh chảy máu. Hạn chế cho uống nước, giảm các loại thức ăn đã nêu trên. Nếu trong bể sữa có máu cục, bơm vào lá vú 200ml NaCl 1% để làm tan máu, hoặc bơm 80-100ml novocain 0,5% vào lá vú. Nếu lá vú có hiện tượng nhiễm khuẩn, bơm các loại kháng sinh vào lá vú, cho con vật uống tẩy nhẹ. Tăng sức đề kháng, trợ sức cho con vật.

* Loại thải: Nếu chữa lâu mà không khỏi, cần loại thải để tránh lây lan và giảm tốn kém do điều trị.

4. Thể vàng tồn lưu

Vào cuối chu kỳ động dục thể vàng chẳng những không tiêu biến mà còn tồn tại qua nhiều chu kỳ tiếp theo, do đó không động dục trong thời gian dài.

Yếu tố gây thể vàng tồnlưu:

Có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu do có những vật thể tồn tại trong tử cung (phôi/thai chết, thai chết ngâm, thai gỗ, u nhầy, tử cung có mủ...).

Chẩn đoán:

Kiểm tra qua trực tràng nhận thấy thể vàng chức năng tồn tại, nhưng không có chửa (10 và 20 ngày sau kiểm tra lại vẫn nguyên hiện trạng); hoặc sờ được thể ngoại lai trong tử cung (vừa nêu trên).

Biện pháp khắc phục:

- Tiêm PGF 2a : 20-30mg/bò; hoặc dẫn xuất của prostsglandin (Estrumate, Lutalyse, Hanprost): 500 m g/bò.

- Có thể bóc thể vàng tồn lưu (qua trực tràng), nhưng dễ gây chảy máu buồng trứng. vậy cần hết sức thận trọng.

5. U nang nang trứng

Là 1 hoặc nhiều nang trứng không rụng do đó lưu lại trong một bên buồng trứng (hoặc cả hai) từ 10 ngày trở lên (có đường kính >2,5cm). Kết quả là làm cho con vật động dục thường Xuyên, kéo dài và mãnh liệt (cường dục), có sự thay đổi cân bằng hormon, thay đổi trương lực cơ dạ con, không rụng trứng được. Đôi khi kèm theo viêm nội mạc tử cung.

Yếu tố gây u nang nang trứng:

* Do mức canxi ăn vào quá nhiều hoặc tỉ lệ Ca: P quá lớn (ví dụ 2: 1)

* Do lượng estrogen ăn vào quá nhiều (từ thức ăn hoặc từ độc tố nấm mốc)

* Do di truyền

* Do stress hoặc sức khỏe suy giảm mạnh lúc đẻ hoặc ngay sau khi đẻ

Biện pháp khắc phục:

* Nuôi dưỡng: phân tích thành phần hóa học của cỏ, bảo đảm tỉ lệ Ca: P không quá 2: 1 (lượng Ca ăn vào được tính cho toàn bộ cỏ, hạt cốc, khoáng bổ sung)

* Không tiêm các dẫn xuất estrogen (trừ yêu cầu chữa bệnh của Thú y). Phân tích những thức ăn nghi ngờ có chứa Zearalenone hoặc độc tố nấm mốc. Hạn chế cho bò sinh sản ăn thức ăn có mycotoxin và những thức ăn có estrogen thảo mộc.

*Điều trị: có thề áp dụng một trong các cách sau: (a) Tiêm hCG:5.000 - 10.000 UI; (b) Tiêm GnRH: 100 - 200mg; (c) Tiêm PGF 2a (Dinoprost: 25mg; hoặc Cloprostenol: 500mg); (d) Tiêm Progesteron: 1,9g: (e) Tiêm 50 ml Glucose (40-50%) vào trong tử cung (kinh nghiệm của Nhật); (f) Bóp vỡ u nang (qua trực tràng): nguy hiểm, cần thận trọng.

* Dùng phương pháp Ovsynch (sơ đồ): Sau lần tiêm GnRH thứ hai 16-20 giờ thì dẫn tinh. Hiệu quả có thể đạt trên 90%.

* Kết hợp chữa bệnh có liên quan (viêm nội mạc, sát nhau, viêm buồng trứng).

6. Thiểu năng và teo buồng trứng

Có thể gặp ở nhiều loài gia súc (sinh sản nhiều hoặc già nua)

Triệu chứng: không động dục kéo dài, hoặc động dục yếu và các giai đoạn không rõ ràng. Buồng trứng bé hơn bình thường, không có thể vàng và cũng không có nang trứng phát triển. Sau mỗi đợt 10 ngày sờ khám lại, trạng thái buồng trứng không thay đổi.

Yếu tố gây thiểu năng và teo buồng trứng:

Do nhiều yếu tố: dinh dưỡng kém, tỉ lệ FSH và LH do tuyến yên tiết ra không cân đối

Biện phápkhắc phục:

* Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng, bổ sung vào khẩu phần: protein, khoáng, vi lượng, vitamin (A, E, D, B), thả chăn ngoài bãi cỏ

* Qua trực tràng, xoa nhẹ mỗi buồng trứng (cách vài ngày xoa 1 lần, mỗi lần 3-5 phút, tiến hành trong 4-5 lần)

* Điều trị: có thể sử dụng một trong các cách: (1) Tiêm (bắp hoặc dưới da) kích tố màng đệm nhau thai ngựa (huyết thanh ngựa chửa, PMSG): 750 - 1500 UI/bò (nếu tính theo đơn vị chuột thì10-12 đơn vị chuột/1 kg khối lượng cơ thể, nhưng khống chế mức tiêm tối đa cho 1 bò ≈ 3000 đơn vị chuột). (2) Tiêm GnRH: 100mg/bò.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội IX Liên hiệp Hội Việt Nam
Sáng 12-8, tại Hà Nội, Đoàn Chủ tịch và Hội đồng Trung ương Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ 19 và Hội nghị Hội đồng Trung ương lần thứ 13 khóa VIII dưới hình thức trực tiếp và trực tuyến, nhằm tập trung rà soát, thống nhất các nội dung chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc Liên hiệp Hội Việt Nam lần thứ IX, nhiệm kỳ 2026-2031
Quảng Trị: Tập huấn cập nhật kiến thức chăm sóc người bệnh
Ngày 11/8, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) tỉnh phối hợp với Hội Y học tỉnh tổ chức tập huấn “Cập nhật kiến thức, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh”, nhằm cập nhật kiến thức chuyên môn và y khoa mới, nâng cao kỹ năng chăm sóc người bệnh cho đội ngũ điều dưỡng.
Đại hội lần thứ nhất Liên hiệp Hội Việt Nam – Dấu mốc khai sinh mái nhà chung của trí thức khoa học và công nghệ
Ngày 26/3/1983, tại Thủ đô Hà Nội, Đại hội thành lập Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam được tổ chức. Từ dấu mốc lịch sử ấy, một tổ chức chung của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ Việt Nam chính thức hình thành, mở ra hành trình tập hợp, đoàn kết và phát huy trí tuệ của các nhà khoa học vì sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Tạo động lực phát triển, đưa ngành công nghệ sinh học Việt Nam lên tầm cao mới
Hội nghị Khoa học toàn quốc về Công nghệ sinh học 2026, diễn ra trong hai ngày 7 và 8/8 tại Đại học Đông Á, Đà Nẵng, không chỉ là sự kiện học thuật mà còn là một dấu mốc chiến lược, điểm hội tụ trí tuệ nhằm định hình lại quỹ đạo phát triển của ngành công nghệ sinh học Việt Nam...
Nghệ An: Khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng
Sáng 7/8, Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật tỉnh phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, Tỉnh đoàn và trường Cao đẳng công nghiệp Việt Nam – Hàn Quốc tổ chức khai mạc vòng chung kết Cuộc thi sáng tạo dành cho thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh năm 2026.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng dự Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long
Ngày 7/8, tại Vĩnh Long, GS.TSKH. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam dự và phát biểu tại Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Vĩnh Long lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031. Đây là Đại hội đầu tiên sau hợp nhất Liên hiệp Hội ba tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và Vĩnh Long, mở ra một giai đoạn phát triển mới của đội ngũ trí thức KH&CN trên địa bàn tỉnh.
Thống nhất quy định để doanh nghiệp không phải khai báo nhiều lần
Sáng 7/8, Tổ 15 (gồm Đoàn ĐBQH tỉnh Phú Thọ, TP. Đà Nẵng) thảo luận về: dự án Luật Phát triển đô thị; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của 10 luật có liên quan đến thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp và môi trường; dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.