Vius gây thiếu máu gà con-một nguy cơ tiềm ẩn
Khái niệm
CAV là virus 25nm, không có vỏ bọc, thuộc giống Gyrovirus, họ Circoviridae. CAV chỉ gây bệnh cho gà, mặc dầu kháng thể được phát hiện cả trên chim cút (Nhật Bản). Virus đề kháng với axit (pH 2 - 3), ête, chlorofurm, nhiệt (70 0C trong 1 giờ, 80 0C trong 5 phút) và nhiều chất khử trùng (thậm chí trong 2 giờ ở 37 0C). Những biểu hiện nhiễm CAV thấy rõ ở gà con đang sinh trưởng. Lần đầu tiên, CAV được phát hiện vào năm 1979, từ đó đến nay, qua kiểm tra huyết thanh học và phân lập virus, nhận thấy CAV tồn tại ở nhiều nước, nhất là những nơi có nuôi gà thương phẩm.
CAV đã làm cho nhiều nước trên thế giới bị tổn thất nặng nề về kinh tế trong công nghiệp nuôi gà bởi triệu chứng lâm sàng trực tiếp, thậm chí còn tiềm ẩn sự phá hoại nghiêm trọng hơn do bệnh còn có ở dạng cận lâm sàng. Tỷ lệ chết điển hình là 5-10%. Nhiều trường hợp chết đến 60% nếu trong cơ sở có tiềm ẩn những bệnh khác (Aspergillosis, Gumboro...).
Hằng năm, chỉ riêng do bệnh này, ngành gia cầm nước Mỹ bị thiệt hại trên 50 triệu USD. Cũng với bệnh này, kinh nghiệm của Ai-len cho thấy những "tổn thất ngầm" về năng suất của gà broiler có biểu hiện cận lâm sàng đã gây thiệt hại to lớn về kinh tế.
Biểu hiện bệnh
Gà sinh trưởng kém, màu da nhợt nhạt. Tỷ lệ chết tăng đột ngột (thường xảy ra vào ngày tuổi 13-16). Đối với gà trưởng thành, biểu hiện lâm sàng không rõ, không ảnh hưởng đến năng suất trứng hoặc tỷ lệ phôi trong đàn bố mẹ khi mà những gà này bắt đầu nhiễm bệnh (mặc dù trước đó chúng có phản ứng huyết thanh âm tính).
Tỷ lệ PCV (Packed cell volume) của gà ốm rất thấp (5 - 15%) so với gà lành (27 - 36%), xuất hiện hoại thư ở da chân, đùi, cánh hoặc cổ, có triệu chứng viêm phổi myco cấp tính. Có thể xuất huyết dưới da, cơ hoặc các khí quan khác. Sau khi chết, xương xốp xanh hoặc vàng), teo tuyến ức và túi Fabricius, gan và thận bạc màu.
Cách lây truyền bệnh
Thường có 2 cách lây truyền bệnh: lây truyền dọc và lây truyền ngang.
Lây truyền dọc:Phương thức lây truyền cổ điển là lây từ gà mẹ qua trứng và làm cho gà con phát bệnh lúc 10 - 14 ngày tuổi. Gà con ốm biếng ăn, còi cọc, xanh tái, suy sụp sức khỏe, trên da có biểu hiện bệnh nghiêm trọng, nhiễm nấm và thoái hóa miễn dịch tổng thể, tỷ lệ PCV thường dưới 27%. Làm tiêu bản máu, nhận thấy có hiện tượng thiếu máu, giảm bạch cầu. Máu có thề loãng và chậm đông. Gà con nhiễm bệnh kéo dài 3 - 6 tuần. Tỷ lệ chết có thể đến 60% hoặc cao hơn nếu kết hợp với những bệnh thứ phát. Bệnh do CAV làm tăng chi phí điều trị do nhiễm bệnh thứ phát và giảm khả năng sinh trưởng. Để đề phòng sự lây truyền dọc, nhiều nước phòng ngừa sự lây truyền từ đàn mái đẻ bằng cách tiêm phòng để tạo miễn dịch trước khi gà đẻ. Như vậy sẽ hạn chế hoặc giảm thấp hiện tượng lây truyền dọc. Tuy nhiên, phải theo dõi và có chương trình tiêm chủng tại chỗ để đảm bảo phòng bệnh rộng rãi cho các đàn gà giống.
Lây truyền ngang:Mọi lứa tuổi của broiler đều mẫn cảm với sự lây nhiễm, nhưng sau 2 – 3 tuần tuổi đầu, bệnh có thể giảm. Như vậy, có nghĩa là từ những tuần đầu, nếu gà con nhận được kháng thể qua gà mẹ (nhờ đã tiêm phòng từ trước), chúng sẽ được bảo hộ. Tuy nhiên, nếu kháng thể truyền từ mẹ sang không đồng dạng, hoặc chịu ảnh hưởng của những tác nhân gây ức chế miễn dịch, có thể phá hủy nghiêm trọng sự phòng vệ này. Ngoài ra, nếu có hiện tượng đồng nhiễm bệnh giữa CAV với các virus khác như virus bệnh Marek, virus bệnh Gumboro và reoviruses, gà con càng mẫn cảm hơn với lây nhiễm ngang đối với CAV trong thời gian dài.
Những đàn gà giống do nhiễm bệnh tự nhiên hoặc phòng bệnh kém, nhất là uống nước có hòa thuốc phòng bệnh, do uống không đủ liều nên lượng kháng thể trong gà mẹ thấp, từ đó kháng thể trong gà con thấp. Đây là nguy cơ lớn vì dễ bị lây nhiễm ngang (lây giữa các cá thể cùng đàn hoặc khác đàn với nhau). Virus có thể tiềm tàng trong những trại gà mà quy trình khử trùng không chu đáo hoặc dùng thuốc khử trùng kém hiệu lực.
Phòng trị bệnh
Virkonđ S (Dupont TM) là thuốc khử trùng có phổ kháng khuẩn rộng nên có hiệu lực đối với CAV ở nồng độ 1 : 250 (khử trùng hệ thống ống dẫn nước uống, chén uống, núm uống, nước uống).
Ngày nay đã có nhiều loại vacxin được chế từ virus sống hoặc bất hoạt dùng phòng bệnh CAV cho gà. Ví dụ, các loại vacxin có những tên, như USPTO, CIRCOMUNE, CAV-VAC. Ngoài ra, để chẩn đoán nhanh CAV, trên thị trường có bán “FlockChek", một loại chỉ thị phát hiện kháng thể CAV trong huyết thanh gà (dựa theo nguyên lý của kỹ thuật ELISA) - Chích Anaemia Virus - The Hidden Menace – (Theo Poultry Site).








