Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ năm, 16/06/2011 18:26 (GMT+7)

Việt Nam - một cuộc chiến tranh dành cho các nhà báo?

Chúng tôi xin giới thiệu lời tựa “Việt Nam - Một cuộc chiến dành cho các nhà báo” của Borries Gallasch và bài Không còn trận tuyến nữa của tác giả Ottavio di Lorenzo (phóng viên người Italia).

Cuộc chiến tranh Việt Nam - còn hơn những cuộc chiến tranh trước đó - cũng là một cuộc chiến tranh của các cơ quan truyền thông. Hơn các cuộc chiến tranh trước đó, cuộc chiến tranh này đã được họ chuẩn bị, tiếp thêm động cơ và cuối cùng đã cùng quyết định nó.

Ngay cả những tờ báo như Washington Post và New York Times - những tờ báo thời chiến tranh lạnh đã truyền bá việc chủ động bảo vệ tư tưởng của "Phương Tây tự do" chống lại "ách thống trị thế giới của chủ nghĩa cộng sản" đang vươn lên - với cương vị là kẻ chống đối gay gắt sự can thiệp của Mỹ tại Việt Nam mà chính họ đã đề xướng, họ lại là người góp phần dẫn đến bước ngoặt lịch sử.

Nếu không có những cuộc thập tự chinh ác liệt của hai tờ báo này chống cuộc chiến tranh Việt Nam và chính sách của ba đời chính phủ Mỹ kế tiếp nhau về Việt Nam, nếu không có lương tâm hướng tới cung cách này của một bộ phận quan trọng của dân tộc Mỹ - một dân tộc đứng trước nguy cơ bị phân hóa thành hai trận tuyến không dung hòa, nếu không có áp lực của họ đối với các chính phủ Mỹ, thì chắc chắn Mỹ vẫn tiếp tục lún sâu tại Việt Nam và có thể sau này, sau này nữa, họ sẽ thực hiện sự bế tắc trong chính sách của họ.

Sự ác liệt mà cả những kẻ ủng hộ và người chống đối cuộc chiến tranh của Mỹ tại Đông Dương đã chiến đấu trên mặt trận báo chí đã tìm thấy lí do quan trọng của nó trong đó, rằng đại đa số của hai trận tuyến có quyền yêu sách những gì đã viết ở mặt sau trên ngọn cờ (in sẵn): bảo vệ những lý tưởng và nguyên tắc cũ kỹ của Mỹ, trong trường hợp liên quan đến Mỹ. Cao nhất và điểm thảo luận tranh cãi gay gắt nhất tại Mỹ là: có phải đây là một cuộc chiến tranh chính nghĩa vì một sự nghiệp chính nghĩa chăng?

Sự trung thành trong khối liên minh của Mỹ, vai trò bảo vệ của cường quốc phương Tây, nhất thể hóa ý thức quần chúng nhồi nhét trong sự tự bình quyền sâu sắc đòi hỏi việc triển khai những người mà họ tin tưởng vào những lý tưởng và hoặc nhìn thấy họ thay mặt hoặc phản bội họ: Cuộc chiến tranh Việt Nam nhiều năm trời đã giữ một vị trí bên lề trong ý thức của quần chúng; Những người bảo vệ và những người truyền bá ý thức này biết rất rõ mặt trận này quan trọng đối với họ như thế nào?

Khác với châu Âu: Tại đây xa cách cuộc chiến tranh, các chiến tuyến cũng rõ ràng hơn: bạn của Mỹ thì đồng tình, kẻ thù của Mỹ thì chống cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

Sự tương phản về chính trị của nó, ý nghĩa về mặt đạo lý mà chính trị toàn cầu của cuộc chiến tranh này, một mặt nó là cuộc chiến đấu của một cường quốc thế giới giành giật từng tấc đất và bám giữ nguyên tắc chính sách bá quyền, mặt khác nó là cuộc đấu tranh giải phóng đầy hi sinh gian khổ của một dân tộc nhỏ bé - tất cả những điều ấy cả thời gian dài không hề thể hiện qua các cơ quan báo chí và trường đại học châu Âu của chúng ta.

Nhưng các nhà báo, những người sưu tầm tin tức tại châu Âu đã tỏ thái độ như thế nào? Thực ra không có một cuốn sách nào viết về báo chí, mà chỉ sưu tầm những phóng sự. Với cách nhìn nhận hoàn toàn khác nhau và với những nguyên nhân căn bản khác nhau, 9 nhà báo đã mô tả lại những kí ức, trải nghiệm của mình vào giờ số 0, cũng như về những ngày trước đó và sau đó.

Giai đoạn quá độ đã được làm sáng tỏ, vào giờ phút mà Sài Gòn đã trở thành Thành phố Hồ Chí Minh: các bản tin của những nhân chứng dành tặng cho những ai mà Việt Nam sau chiến tranh không chỉ là một danh từ để hồi tưởng chiến tranh ấy. Chính vì vậy cần nói thêm đôi điều về các nhà báo đã từng mô tả cuộc chiến tranh này. Nó không những có ý nghĩa quan trọng đối với các cơ quan báo chí (không chỉ vì lí do doanh thu cao, bởi vì ngay từ đầu cuộc chiến tranh đã bị thương mại hóa cao như tại Triều Tiên trước kia), mà nó còn rất quan trọng đối với các nhà báo.

Cả những đoàn quân nhà báo phóng sự và viết tin chiến tranh thường xuyên có những cuộc thao diễn tại đây. Những tài năng mới được thử thách, được trải nghiệm, những người bướng bỉnh và những người (đã trở thành kẻ lớn) cũng phải trở ra "mặt trận". Một biên tập viên đối ngoại xấu hổ buộc phải trả lời câu hỏi có tính thách thức của đồng nghiệp "Anh đã có mặt tại Việt Nam lúc nào?", rằng "Nói chung chưa". Anh ta tự dưng rơi vào sự lãng quên vô nghĩa.

Mặt khác tất nhiên hiện nay thiếu vắng cuộc chiến tranh lớn, mà biết bao nhiêu người cầm bút trong 30 năm ấy đã viết bài đến chảy cả máu tay. Có không ít tờ báo đã có đội ngũ chuyên viết bài về Việt Nam - bây giờ người ta đưa họ đi đâu rồi? Nhưng ngay cả những người đã trở lại với ban biên tập của họ và cả những người bây giờ không còn lý do gì để đến quốc gia xa xôi ấy nữa, họ đã biến mất một cách khó hiểu, mà họ phải thích nghi với môi trường ấy.

Trong cuốn sách Quiet American (Người Mỹ trầm lặng), Graham Greene đã miêu tả cơ chế mà đa số các nhà báo chiến tranh đã sử dụng trong cuộc chiến tranh của thực dân Pháp.

Những gì Greene đã viết, vẫn còn nguyên vẹn đối với việc tiếp tục cuộc chiến tranh thông qua người Mỹ: báo cáo tóm tắt tin tức do quân nhân thảo, đi tham quan tại khu vực giao tranh dưới mưa đạn đại bác yểm trợ, quan sát từ cự ly hoặc độ cao an toàn.

Sau đó được miêu tả sai lệch làm như họ đã trải qua một chuyến thị sát mặt trận đáng được coi là hành động anh hùng. Người viết tin chiến trường buộc phải đặt dưới quyền kiểm soát của viên chỉ huy quân sự, tuân theo quy luật của chiến tranh, đáng lý họ phải thường xuyên tìm kiếm sự tất yếu và đặt nó tương phản với triển vọng chính trị của thời cuộc.

Nhưng tất nhiên cũng có những nhà báo khác: 55 nhà báo đã bỏ mạng trong cuộc chiến tranh Việt Nam, đa số họ đã lăn xả, muốn biết tận tường trong từng chiến dịch và không muốn núp dưới bóng của một bên nào.

Hơn thế nữa: sự lừa bịp của các luận điệu, sự minh bạch giả tạo của yêu sách ngạo mạn muốn làm người duy nhất chiếm giữ giá trị đạo đức và luân lý đã đồng hành với sự giao kết của Mỹ tại Đông Dương và được chính quyền Sài Gòn thân Mỹ tiếp nhận một cách tự nhiên.

Nó không mang ý nghĩa đặc trưng của chủ nghĩa dân tộc, mà mang nhãn hiệu chung chung yêu sách "bảo vệ dân chủ và tự do toàn cầu". Nó bao gồm đại đội phóng viên chiến tranh và phóng viên người nước ngoài với nhiều nguồn gốc xuất xứ và quốc tịch khác nhau. Cho đến phút cuối cùng.

Có thể với sự lý giải mà Winfried Scharlau, phóng viên truyền hình ARD chuyên về Đông Á, có trụ sở tại Hongkong, người đã đưa tin về chiến tranh Việt Nam từ nhiều năm qua và cũng đã thường xuyên nhấn mạnh ý nghĩa lịch sử thế giới của cuộc chiến tranh này- đã phải sơ tán vào ngày 29/4/1975 cùng với số đông phóng viên nước ngoài. Anh ta rời đất nước này, bởi vì sau khi Cộng sản giành thắng lợi, có thể không có sự bảo đảm đối với những bài báo có nội dung phê phán- Scharlau đã viết như vậy.

Và vì lý do ấy, chỉ có những nhà báo có thái độ tích cực - những nhà báo hoan nghênh - đối với chế độ mới, quyết định ở lại đây.

Sự cùng quẫn của luận điệu trên đã phơi trần: Bên cạnh một số phóng viên Đức, trong đó có Dietrich Mummendey-một con người mà người ta không thể trách cứ rằng ông ta có cảm tình với Mặt trận Giải phóng - còn một số người khác đã ở lại đây: như UPI, AP, BBC, AFP, đài truyền hình Italia, đài truyền hình Pháp, radio Đan Mạch, báo Guanrdian, Daily Telegraph, Der Spiegel, Stern, và còn nhiều tờ báo khác nữa, tổng cộng có đến 120 phóng viên nước ngoài từ Nhật Bản đến Argentine.

Peter Scholl-Latour, người do những lý do về thời gian, đã rời đất nước này trước một tuần lễ, muốn trở lại đây, mặc dầu anh ta có thể không phải là nhà báo được hoan nghênh: sự tái nhập cảnh của anh ta đã thất bại bởi vì công cuộc giải phóng đã diễn ra quá sớm, không lường trước được. Ở đây chỉ có máy bay chở người rời khỏi Sài Gòn, không có máy bay bay tới đây.

Ban biên tập Rororo Aktuell và tôi đã nhất trí với nhau: tập hợp trong cuốn sách này tất cả những bài báo hồi ký chủ quan và ngẫu hứng của các bạn đồng nghiệp từ khắp mọi trận tuyến, dù đó là mang tính báo chí, chính trị và địa lý.

Sự đồng thuận đã diễn ra thật ngẫu hứng, những khó khăn về kỹ thuật đã được khắc phục trong hoàn cảnh gặp nhiều khó khăn! (phải gửi bằng điện tín 2 bài báo từ Sài Gòn qua Hà Nội và Hongkong, một bài báo khác phải giao cho một người giao liên mang về). Nhà xuất bản và các tác giả đã nhất trí với nhau trong sự đánh giá khác nhau rằng: đây là cuốn sách cuối cùng về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, không đăng thêm bào nào nữa.

Xem Thêm

Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Thanh Hoá: Kinh tế tuần hoàn, tín chỉ Carbon và mô hình sản xuất không phát thải
Ngày 30/9/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Thanh Hóa (Liên hiệp hội) phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ, Trường Đại học Hồng Đức và Viện Nông nghiệp Thanh Hóa tổ chức Diễn đàn khoa học với chủ đề “Kinh tế tuần hoàn và tín chỉ Carbon - Phương pháp xây dựng mô hình sản xuất không phát thải tại Thanh Hóa”.
Đắk Lắk: Phát huy nguồn lực trí thức, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo tỉnh
Trong giai đoạn 2026-2030, xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo (ĐMST) là yêu cầu quan trọng để Đắk Lắk khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực cho phát triển. Cùng với KHCN và CĐS, ĐMST cần được nhìn nhận không chỉ là hoạt động của các viện, trường hay doanh nghiệp công nghệ, mà là một phương thức tổ chức nguồn lực để giải quyết những bài toán phát triển cụ thể của địa phương.
Phú Thọ: Tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật tại xã Lạc Sơn
Ngày 25/9/2026, tại xã Lạc Sơn, tỉnh Phú Thọ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Viện Tài chính vi mô và Phát triển cộng đồng (MACDI) cùng các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức chương trình tập huấn, truyền thông thúc đẩy giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật.
Đại hội Hội Khoa học lịch sử Việt Nam lần thứ VIII: GS.TS Nguyễn Văn Kim được bầu làm Chủ tịch
Ngày 30/9/2026, tại Hà Nội, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2026-2031. Đại hội là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Hội; GS.TS Nguyễn Văn Kim được tín nhiệm bầu giữ chức Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam nhiệm kỳ 2026-2031.
Thế hệ trẻ và bản lĩnh chính trị trên không gian số: Chủ động đối thoại, phản biện và “phủ xanh” thông tin tích cực
Trong kỷ nguyên số, không gian mạng tác động sâu sắc đến nhận thức, tư tưởng của xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ. Trước tin giả, thông tin xấu độc và các luận điệu sai trái, thù địch, tuổi trẻ Việt Nam thông qua các diễn đàn chính luận đã khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, chủ động đối thoại, phản biện các luận điệu sai trái và góp phần “phủ xanh” không gian mạng bằng những giá trị tích cực.
Phản biện để hoàn thiện, không phải để phủ định
Hoạt động tư vấn, phản biện (TVPB) của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trở thành một phương thức quan trọng để tập hợp trí tuệ đội ngũ trí thức, cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho Đảng, Nhà nước. Để hiểu rõ hơn về sự phát triển, phương pháp tổ chức và những bài học thực tiễn từ hoạt động này, phóng viên đã có cuộc trao đổi với ThS Bùi Kim Tuyến, Trưởng ban TVPB, VUSTA
Liên hiệp Hội Việt Nam hợp tác với doanh nghiệp công nghệ, hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số
Ngày 28/9, tại Hà Nội, Lãnh đạo Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã có buổi trao đổi, làm việc với Công ty CP Tập đoàn Truyền thông StarWorld (Starworld Group) về các giải pháp chuyển đổi số, hướng tới xây dựng nền tảng công nghệ khoa học phục vụ chiến lược phát triển của VUSTA trong giai đoạn 2026 - 2031.
Phó Chủ tịch Trương Xuân Lam: Đưa khoa học, công nghệ vào giải quyết những bài toán thực tiễn ngành hàng không
Ngày 26/9, tại Hà Nội, Hội Khoa học và Công nghệ Hàng không Việt Nam tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031. Phát biểu tại Đại hội, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN nhấn mạnh yêu cầu Hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập hợp và phát huy đội ngũ trí thức, đưa KHCN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào giải quyết những vấn đề của ngành hàng không.
Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia 2026: Kết nối nguồn lực, thúc đẩy công nghệ
Theo Nghị định số 268/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ, ngày 1/10 hằng năm là Ngày hội Đổi mới sáng tạo quốc gia (INNOVATION DAY) do Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì. Quy định này nhằm tạo một dấu mốc thường niên để lan tỏa tinh thần đổi mới sáng tạo trong xã hội, đồng thời thúc đẩy ứng dụng, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Liên hiệp Hội Việt Nam tổ chức chương trình làm việc, khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh
Ngày 25/9, Cơ quan Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã tổ chức chương trình thăm, làm việc và khảo sát thực tế tại Trung tâm Đa dạng Sinh học Mê Linh (thuộc Viện Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam). Chương trình diễn ra với chủ đề “Trí thức khoa học và công nghệ với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững”.
Hội Tự động hóa Việt Nam và Đại học Công nghệ Quế Lâm hợp tác tạo cơ hội phát triển công nghệ và chuyển đổi số
Hội Tự động hóa Việt Nam (VAA) và Đại học Công nghệ Quế Lâm (Trung Quốc) ký biên bản ghi nhớ, hướng tới xây dựng phòng thí nghiệm trọng điểm chung về ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời đưa kết quả nghiên cứu vào thử nghiệm, chuyển giao và ứng
Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada
Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Canada của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện cam kết mạnh mẽ của lãnh đạo hai nước trong việc đưa quan hệ song phương bước vào kỷ nguyên mới hợp tác sâu rộng, thực chất và bền vững hơn. Trân trọng giới thiệu toàn văn Tuyên bố chung về quan hệ Đối tác Chiến lược giữa Việt Nam và Canada: