Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 15/09/2009 04:51 (GMT+7)

Về vấn đề Mã Viện nam chinh Giao Chỉ

Chúng tôi xin trích giới thiệu tham luận của GS Hoàng Tranh, Viện KHXH Quảng Tây, đã trình bày tại hội thảo.

Mã Viện nam chinh chính là sự kiện nổ ra năm 41 khi vương triều Đông Hán sai Phục Ba tướng quân Mã Viện cầm quân tiến vào khu vực Giao Chỉ để bình định cuộc khởi nghĩa chống lại chính quyền Đông Hán do Hai Bà Trưng lãnh đạo. Khu vực Giao Chỉ thời nhà Hán mà chúng ta thường nói chính là ba quận Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam trong chín quận Lĩnh Nam với diện tích tương đương với khu vực Bắc bộ và miền trung Trung bộ Việt Nam ngày nay. Thời đó, vùng đất là này là một huyện quận đặt dưới sự thống trị của vương triều phong kiến Trung Quốc. Tuy nhiên, do xa cách về mặt địa lý cho nên sự thống trị của nhà Hán tương đối lỏng lẻo, chỉ cử viên Thái thủ đến cai quản tại các quận, bên dưới do các thủ lĩnh bộ lạc gọi là “Lạc tướng” trông coi. Một trong hai Hai Bà Trưng là Trưng Trắc, là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh, quận Giao Chỉ, có chồng là Thi Tố (1) con trai Lạc tướng huyện Chu Diên quận Giao Chỉ. Khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra năm 40, nguyên nhân của nó là do Thái thủ Giao Chỉ là Tô Định, một người tham lam tàn bạo đã giết hại Thi Tố, Hai Bà Trưng dấy binh báo thù, tấn công Tô Định. Vì Tô Định là một tham quan nên có nhiều Lạc tướng và quần chúng vùng Giao Chỉ đã ủng hộ Hai Bà Trưng, nghĩa quân đánh chiếm được nhiều vùng.

Năm 41, vương triều Đông Hán sai Mã Viện dẫn quân tiến vào Giao Chỉ, trong thời gian gần ba năm đã bình định xong Hai Bà Trưng. Trong thời gian đó, Mã Viện đã thi hành một loạt chính sách trên các lĩnh vực chính trị và kinh tế để củng cố sự thống trị của vương triều trung ương,phát triển kinh tế xã hội. Đánh giá Mã Viện nam chinh, đánh giá nhân vật lịch sử Mã Viện, chủ yếu không phải là đánh giá chiến công quân sự mà ông đã thể hiện trong việc bình định Hai Bà Trưng. Bởi vì, một bên là lực lượng quân sự to lớn đại biểu cho nhà nước phong kiến tập quyền trung ương, một bên là khối liên hợp giữa các thủ lĩnh bộ lạc với quần chúng.

Thắng lợi mà Mã Viện giành được trong cuộc đấu tranh quân sự này là điều hiển nhiên. Điều mà chúng ta cần tập trung nghiên cứu và đánh giá chính là hàng loạt những chính sách mà Mã Viện đã thi hành sau khi bình định vùng Giao Chỉ, về mặt khách quan đã thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển như thế nào.

Chính sách của Mã Viện thực thi tại Giao Chỉ (2)

Sử sách xưa ghi lại chủ yếu như sau:

Những quận huyện mà Mã Viện đã tới, ông đều chú ý tới việc xây dựng thành trì, đào mương tưới nước, đem lại lợi ích cho dân. Bãi bỏ hơn mười đạo luật không phù hợp với luật lệ nhà Hán, trịnh trọng nói rõ với người Việt về chế độ cũ, từ đó về sau Lạc Việt đã thi hành các quy định của tướng quân Mã Viện” (Hậu Hán thưquyển 24Mã viện truyền).

Mã Viện đi cai trị vùng tây nam xa xôi, đường xa nghìn dặm, đã sắp đặt chế độ cai trị huyện, đã cho xây dựng hệ thống kênh mương tưới tiêu, mang lại lợi ích cho dân” (Thuỷ kinh chúquyển 7Khiếu du hàđiều dẫnGiao châu ngoại vực ký).

Mã Viện cai trị huyện Tây Ư (thuộc quận Giao Chỉ) có 33.000 hộ, ông đề nghị chia huyện này thành hai huyện là Phong Khê và Vọng Hải, vua Hán chấp thuận. Mã Viện lại cho lập thành và các huyện xây thành Tỷ Giang tại Phong Khê” (Việt sử thông giám cương mụclần biên tập trước, quyển 3).

Những đoạn trích trên đây chứng tỏ rằng, chính sách mà Mã Viện thi hành tại vùng Giao Chỉ bao gồm cả những luật lệ tập quán địa phương không phù hợp với chính sách pháp luật của vương triều trung ương, thực thi pháp trị phong kiến; bãi bỏ chế độ Lạc tướng được thi hành trước đây, kiện toàn chế độ quận huyện phong kiến, từ quận đến các huyện đều do triều đình cắt cử các quan đến cai trị; xây thành đắp luỹ, hoàn thiện hạ tầng thị chính, xây dựng thành thị trung tâm đồng thời chia nhỏ các huyện quá to để tiện cho việc quản lý và thống trị. Mặt khác, ông cho tăng cường việc làm đường trong vùng Giao Chỉ, cải thiện giao thông, xây đắp hệ thống thuỷ lợi, cải thiện công tác tưới tiêu, khuyến khích canh tác, phát triển nông nghiệp… Tất cả các chính sách nói trên vừa có lợi cho sự thống trị của vương triều trung ương, vừa có lợi cho sự phát triển kinh tế địa phương. Trước khởi nghĩa Hai Bà Trưng, vùng Giao Chỉ ở vào thời kỳ sau xã hội thị tộc, trên thực tế quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng phong kiến chưa xuất hiện. Có tình trạng đó là bởi vì từ lâu sau khi Hán Vũ đế bình Nam Quốc, nhà Hán luôn thực thi phương pháp ‘”Dĩ kỳ cố tục trị” (Sử ký Bình chuẩn thư), “Bất dụng thiên tử chi pháp độ” (Hậu Hán thư Nghiêm trợ truyền), cung với việc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bị bình định, từ đấy vương triều trung ương thiết thực thi hành sự thống trị phong kiến tại vùng này.

Cùng với việc tăng cường kỹ thuật sản xuất tiên tiến, cải tiến điều kiện canh tác, mở rộng giao lưu kinh tế văn hoá và con người giữa vùng Trung Nguyên và vùng Giao Chỉ đã khiến xã hội Giao Chỉ phát sinh sự cải biến to lớn, đã hình thành nên quan hệ sản xuất phong kiến. Đó là sự tiến bộ xã hội. Nhà sử học nổi tiếng Việt Nam Đào Duy Anh trong tác phẩmLịch sử cổ đại Việt Namdo ông soạn đã nhận định rất xác định rằng: “Khởi nghĩa (Hai Bà Trưng) tuy đã thất bại nhưng kết quả khách quan của cuộc khởi nghĩa đã buộc kẻ thống trị ngoại tộc phải phát triển quan hệ sản xuất phong kiến sâu sắc so với chế độ quận huyện trước đây. Từ đây, xã hội Âu Lạc bắt đầu tiến vào một giai đoạn phát triển mới thuộc phạm vi chế độ phong kiến” (Sđd, Nxb Khoa học, 1959). Đây chính là kết quả khách quan do hành động quân sự bình định Hai Bà Trưng của tướng quân Mã Viện đưa tới. Đó là điểm thống nhất trong cách nhìn nhận của những người làm công tác nghiên cứu lịch sử của hai nước Trung - Việt, đó cũng là vấn đề chủ yếu mà hiện nay chúng ta nghiên cứu và khảo sát sự kiện lịch sử Mã Viện nam chinh. Từ vấn đề chủ yếu này chúng ta có thể nhận thấy thực chất của sự kiện. Ngược lại, nếu không xuất phát từ vấn đề chủ yếu này mà chỉ ca ngợi một cách phiến diện và thái quá đối với chiến công nhập Việt của Mã Viện, hạ thấp cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo thì sẽ có thể đưa tới những ảnh hưởng tai hại. Vì sao lại có thể nói như vậy?

Thứ nhất,Mã Viện nam chinh Giao Chỉ không phải là vấn đề quốc nội Trung Quốc, hoàn toàn không liên quan tới Việt Nam. Với tư cách là một quốc gia có chủ quyền, Việt Nam có lịch sử hoàn chỉnh của mình. Trong rất nhiều năm trở lại đây, bất luận là tác phẩm lịch sử Việt Nam, tác phẩm của Trung Quốc hay của các nước khác viết về lịch sử Việt Nam, đều tìm hiểu lịch sử Việt Nam theo phạm vi địa dư Việt Nam ngày nay, đều chia lịch sử cận đại Việt Nam trước khi trở thành thuộc địa của Pháp thành ba thời kỳ, đó là thời kỳ truyền thuyết thượng cổ, thời kỳ Bắc thuộc hoặc thời kỳ quận huyện (từ sau khi nhà Tần thiết lập quận Trí Tương) và thời kỳ nhà nước phong kiến tự chủ (từ sau khi Việt Nam thiết lập nhà nước phong kiến tự chủ năm 968). Khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra vào những năm đầu thời Đông Hán, Việt Nam dưới sự thống trị của vương triều phong kiến Trung Quốc, do vậy, việc Mã Viện bình định Hai Bà trưng đương nhiên là một sự kiện trong lịch sử cổ đại Việt Nam, là một phạm trù chiến tranh trong lịch sử hai nước Trung - Việt. Đề cao quá mức chiến công Mã Viện nam chinh đại biểu cho quyền lợi phong kiến Trung Quốc, đồng thời hạ thấp khởi nghĩa do Hai Bà trưng lãnh đạo, coi khởi nghĩa Hai Bà Trưng là vấn đề thuần tuý về quốc nội Trung Quốc, hiển nhiên là sự biểu hiện thiếu tôn trọng lịch sử Việt Nam.

Thứ hai,xét về tình chất sự kiện Hai Bà Trưng chống lại nhà Hán. Như đã nói, Trưng Trắc cùng chồng là Thi Tố đều là con của các Lạc tướng vùng Giao Chỉ. Lạc tướng là thủ lĩnh bộ lạc vùng Giao Chỉ thời kỳ đó. Do Thái thú Giao Chỉ Tô Định tham lam tàn bạo, giết hại Thi Tố nên đã dẫn tới việc Hai Bà Trưng dấy binh chống lại Hán và nhận được sự hưởng ứng của Lạc tướng và dân chúng gần xa:Sử tịchđã ghi rằng: “Dân chúng Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố đều hưởng ứng” (Hậu Hán thưquyển 6,Nam man truyện). Cuộc khởi nghĩa do Hai Bà Trưng lãnh đạo nên được xem là cuộc khởi nghĩa nhân dân, đối tượng đấu tranh của họ là các tham quan ô lại Đông Hán. Trên thực tế, một số tác phẩm lịch sử trọng yếu do Trung Quốc xuất bản sau khi nước Trung Hoa mới được thành lập, ví dụ nhưTrung Quốc thông sử giản biêncủa Phạm Văn Lan,Thế giới thông sửdo Chu Nhất Lương chủ biên, đều coi việc Hai Bà Trưng dấy binh là khởỉ nghĩa nhân dân. Tới 1982,Cổ đại Trung Việt quân hệ sử tư liệu tuyển biên(Tuyển tập tư liệu lịch sử quan hệ Trung thời cổ đại) do Viện Lịch sử thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc biên tập, Nxb Khoa học Xã hội Trung Quốc xuất bản, trong “dẫn ngôn” của Tiết 4 Chương 2 cũng chỉ ra rằng: “Do sự áp bức và bóc lột tàn khốc của vương triều Đông Hán và quan lại địa phương đã tạo nên sự phản kháng và khởi nghĩa liên tục của nhân dân các dân tộc vùng Giao Chỉ trong đó có qui mô lớn nhất là khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40”. Nhân dân Việt nam luôn coi Hai Bà Trưng dấy binh chống Hán là những anh hùng dân tộc. Hành động của Hai Bà Trưng là khởi nghĩa nhân dân và Hai Bà có một địa vị rất tôn kính trong lòng nhân dân Việt Nam, việc đề cao quá mức chiến công Mã Viện bình định Hai Bà Trưng cũng có khả năng làm thương tổn đến tình cảm dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Thứ ba, những lời nói và việc làm của các nhà lãnh đạo tiền bối Trung Quốc trong việc xử lý vấn đề Mã Viện và Hai Bà Trưng có liên quan tới quan hệ lịch sử Trung Việt đã tạo nên những hình mẫu chói sáng cho chúng ta. Tháng 6 - 1955, khi hội đàm với Chủ tịch Việt Nam Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã đề cập tới việc trong thời kỳ cổ đại, Trung Quốc đã từng xâm lược Việt Nam, đồng thời Chủ tịch cũng đã nhắc tới sự kiện Mã Viện chinh phục Giao Chỉ. Chủ tịch Hồ Chí Minh liền trả lời rằng: “Trước đây nhân dân hai nước Việt - Trung là những người bạn đều bị áp bức, hiện nay chúng ta là những người bạn chiến đấu đang làm cách mạng”. Thái độ đúng đắn trong việc nhìn nhận vấn đề lịch sử của các nhà lãnh đạo chủ chốt của hai nước Trung - Việt rất cần được chúng ta học tập. Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 11 - 1956, Thủ tướng Chu Ân Lai đã từng đến dâng hoa tại đền thờ Hai Bà Trưng tại Hà Nội, biểu thị lòng kính trọng đối với hai vị anh hùng dân tộc Việt Nam, cũng thể hiện sự nhìn nhận đúng đắn đối với vấn đề lịch sử, trân trọng phong phạm lãnh tụ trong tình cảm dân tộc của nhân dân Việt Nam. Trong số ra ngày 26 - 11 - 1956, báoNhân dân Việt Namđã đăng bài viết về vấn đề này với nhan đềTình hữu nghị anh em.Bài báo viết: “Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Thủ tướng Chu Ân Lai đã dành thời gian tới dâng hoa tại đền thờ Hai Bà Trưng để biểu thị lòng kính trọng đối với anh hùng dân tộc Việt Nam. Sự kiện rất cảm động này đã làm tăng thêm mối quan hệ hữu nghị anh em mật thiết không gì phá vỡ nổi giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc”. Bài báo viết tiếp: “Đảng cộng sản Trung Quốc đặc biệt phản đối chủ nghĩa đại dân tộc. Trung Quốc ngày nay hoàn toàn không giống với Trung Quốc xưa kia, chủ nghĩa đại dân tộc đang bị loại bỏ và thay vào đó là tình hữu nghị anh em”. Trong chuyến thăm nói trên, Thủ tướng Chu Ân Lai còn đích thân đề từ: “Việt Trung lưỡng quốc nhân dân thế thế đại đại hữu hảo hạ khứ” (Nhân dân hai nước Việt – Trung đời đời hữu nghị). Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai là những tấm gương cho chúng ta trong việc thực sự cầu thị xem xét vấn đề vương triều phong kiến Trung Quốc xâm lược Việt Nam trong lịch sử đồng thời thể hiện sự trân trọng tình cảm dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Những vấn đề nghiên cứu đặt ra

Với những dữ liệu nói trên, tôi thấy rằng, ngày nay, chúng ta phải có một thái độ bình tĩnh và khách quan trong việc nghiên cứu các vấn đề lịch sử nhạy cảm như Hai Bà trưng dấy binh chống Hán và Mã Viện nam chinh. Nghiên cứu sử học không có vùng cấm. Vấn đề Mã Viện nam chinh không phải là vấn đề không thể nghiên cứu. Chúng ta nghiên cứu làm rõ một số vấn đề liên quan trong đó là việc làm rất có ý nghĩa. Ví dụ như nghiên cứu ảnh hưởng đối với sự phát triển xã hội địa phương do hàng loạt chính sách mà Mã Viện đã áp dụng có thể giúp chúng ta nhận thức và tìm hiểu sự ảnh hưởng và tiếp nhận lẫn nhau giữa văn hoá Trung Quốc và văn hoá Việt Nam trong lịch sử. Ví dụ nghiên cứu “Mã lưu nhân” mà Mã Viện thực thi. Những người đã theo Mã Viện nam chinh rồi lưu lại vùng Giao Chỉ là những người di dân Trung Nguyên, về sau họ trở thành những người Hoa Việt Nam thời kỳ đầu. Những người này cùng con cháu họ đã sớm hoà nhập vào xã hội Việt Nam, cùng nhân dân Việt Nam xây dựng và bảo vệ đất nước Việt Nam. Bộ phận “Mã lưu nhân” lưu lại vùng nay thuộc Quảng Tây, Trung Quốc trong đó bao gồm các bộ tướng của Mã Viện như Tuyên Thuần Vượng, Hoàng Vạn Định và những người trong bộ tộc và con cháu họ lưu trú tại vùng huyện Phòng Thành cũng đã hoà nhập vào xã hội địa phương trong tiến trình phát triển lịch sử. Họ đã có những cống hiến vào sự nghiệp xây dựng tổ quốc và bảo vệ biên cương. Nghiên cứu sự phân bố, hoạt động của “Mã lưu nhân” cùng mối quan hệ giữa họ với các dân tộc khác và các dân hệ khác của dân tộc Hán, sẽ giúp ta có thể nhận thức sâu sắc hơn về quá trình đa nguyên nhất thể của dân tộc Trung Hoa, về lịch sử người Hoa Việt Nam thời kỳ đầu.

Ví dụ khác, nghiên cứu vấn đề tuyến đường hành quân thời đó của Mã Viện sẽ giúp ta có thể hiểu được tình hình giao thông trong nước và giao thông đối ngoại thời kỳ Trung Quốc cổ đại. Ngoài ra, việc nghiên cứu các văn vật di chỉ có liên quan tới việc Mã Viện nam chinh như cột đồng Mã Viện, đền Phục Ba, đền Hai Bà Trưng, đền Ban Phu nhân cũng có lợi cho việc tổng kết di sản lịch sử, hiểu được tín ngưỡng dân gian, bảo vệ và phát triển cổ tích văn hoá… Do đó, cần phải đi sâu nghiên cứu Mã Viện nam chinh và văn hoá Mã Viện. Mặt khác, trong công tác nghiên cứu, chúng ta cũng phải nhận thấy những thành phần “nhạy cảm” của vấn đề này, Do đó, cần phải thận trọng trong việc đề xướng và tuyên truyền các quan điểm. Ví dụ như coi vấn đề Mã Viện nam chinh là vấn đề quốc nội Trung Quốc không một chút liên quan nào tới Việt Nam, nhấn mạnh tính hợp lý, tính chính nghĩa trong hành động quân sự của Mã Viện, đề cao quá mức chiến công Mã Viện bình định Hai Bà Trưng, phủ định tính chính nghĩa cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng… đều có thể khiến nhân dân Việt Nam không hài lòng, làm tổn hại tình cảm dân tộc của nhân dân Việt Nam.

Chú thích:

1. Sử Việt Nam viết tên chồng Trưng Trắc là Thi Sách, sau này giáo sư Vương Hoàng Tuyên đọc lại sách cũ đưa ra lập luận tên chồng Trưng Trắc họ Thi, còn Sách không phải là tên. Giáo sư Hoàng Tranh lại đọc là Thi Tố. Đây cũng là vấn đề cần tìm hiểu thêm (B.T).

2. Tiểu mục do biên tập đặt

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

Quyết định số 185-QĐ/TW: Bộ Chính trị giao 1.878.362 biên chế năm 2026
Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú đã ký ban hành Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026, về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng uỷ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng uỷ các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026.
GS.VS.TSKH Trần Đình Long: Khoa học chỉ thật sự có giá trị khi đến được với người dân
Từ một cậu học trò nghèo đất Tổ Phú Thọ đến nhà khoa học được quốc tế ghi nhận, được vinh danh Công dân Thủ đô ưu tú năm 2025, hành trình của ông là câu chuyện đẹp về lòng say mê tri thức, tinh thần cống hiến và niềm tin bền bỉ vào tương lai của nền nông nghiệp Việt Nam.
VUSTA - cầu nối thúc đẩy hợp tác khoa học, giáo dục giữa cơ sở đào tạo của Việt Nam và Tatarstan
Chiều ngày 08/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) cùng Trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH) đã có cuộc làm việc, trao đổi trực tuyến với Bộ Giáo dục và Khoa học Cộng hòa Tatarstan (Liên bang Nga) cùng đại diện nhiều viện nghiên cứu, trường đại học hàng đầu của Tatarstan nhằm thúc đẩy hợp tác trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và giáo dục đào tạo.
Chủ tịch Phan Xuân Dũng: VUSTA luôn ủng hộ, hỗ trợ Hội Cơ học Việt Nam tổ chức các sân chơi bổ ích cho sinh viên
Ngày 07/6/2026, tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội, Hội Cơ học Việt Nam đã long trọng tổ chức Lễ Tổng kết và Trao giải Olympic Cơ học toàn quốc lần thứ 36 năm 2026 khu vực phía Bắc. Đây là sự kiện thường niên có ý nghĩa quan trọng nhằm đánh giá kết quả kỳ thi, biểu dương những thành tích nổi bật của sinh viên, giảng viên và các cơ sở đào tạo trên cả nước.
Bắc Ninh: Ông Ngô Chí Vinh giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội Khóa I
Trong 02 ngày 05 và 06/6, Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bắc Ninh đã tổ chức Đại hội đại biểu lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026-2031. Phiên thứ nhất của Đại hội diễn ra chiều ngày 05/6; phiên chính thức được tổ chức vào sáng ngày 06/6/2026 với sự tham dự của đông đảo đại biểu đại diện cho đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trên địa bàn tỉnh.
Hải Phòng: Xác định tiêu chí chuyên gia, nhà khoa học người nước ngoài
Sáng 05/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp Hội) thành phố Hải Phòng đã tổ chức hội thảo tư vấn, góp ý vào dự thảo Nghị quyết quy định tiêu chí đối với người nước ngoài là chuyên gia, nhà khoa học, người có tài năng, nhà quản lý, người lao động có trình độ cao làm việc tại doanh nghiệp có trụ sở chính trong Khu thương mại tự do thành phố Hải Phòng.
Thủ tướng Lê Minh Hưng hội đàm với Thủ tướng Lào Sonexay Siphandone
​Nhận lời mời của Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng, chiều 7/6, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Sonexay Siphandone dẫn đầu Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Lào đến Thủ đô Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam và tham dự Diễn đàn Tương lai ASEAN 2026 từ ngày 7-9/6.