Về quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức KH&CN khi chuyển đổi sang cơ chế tự chủ
Đây là những văn bản quy phạm pháp luật quan trọng trong việc đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức KH&CN nhằm đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất, nâng cao hiệu quả đầu tư cho KH&CN, góp phần thúc đẩy tăng trưởng GDP của đất nước. Trong quá trình thảo luận tại các Hội thảo quốc gia góp ý xây dựng các văn bản này và các Hội nghị hướng dẫn triển khai Nghị định 115 và Thông tư 12 được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, có một vấn đề được nhiều người quan tâm, đó là quyền hạn và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức KH&CN. Trong bài viết dưới đây, tác giả đi sâu phân tích về vấn đề này.
Khi thực hiện chuyển đổi theo Nghị định 115, Thủ trưởng tổ chức KH&CN được trao quyền tự chủ toàn diện trong tất cả các hoạt động, từ tổ chức, biên chế đến tài chính, ví dụ: Được quyết định việc thành lập, giải thể các tổ chức trực thuộc theo nhu cầu và hiệu quả công việc; được bổ nhiệm, miễn nhiệm cấp trưởng, phó của các tổ chức trực thuộc; được quyết định hình thức thi tuyển hoặc xét tuyển khi tuyển dụng viên chức; được quyết định bổ nhiệm vào ngạch viên chức đối với những người được tuyển dụng từ ngạch nghiên cứu viên và tương đương trở xuống; được quyết định nâng bậc lương (đúng thời hạn, trước thời hạn và vượt bậc) trong cùng ngạch và quyết định chuyển ngạch viên chức từ ngạch nghiên cứu viên chính và tương đương trở xuống... Nghị định 115 còn tăng thêm quyền hạn cho Thủ trưởng tổ chức KH&CN về tài chính: Được quyết định việc chi thu nhập tăng thêm cho cán bộ, viên chức; quyết định mức trích lập và sử dụng các quỹ; được quyền ký quyết định cử cán bộ đi nước ngoài; được quyền trực tiếp mời các chuyên gia, nhà khoa học nước ngoài và được quyết định mức lương thuê chuyên gia; được quyền lựa chọn đối tác, tự quyết định hình thức hợp tác nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đầu tư trực tiếp, dịch vụ KH&CN với các tổ chức, cá nhân.
Với việc Thủ trưởng tổ chức KH&CN được giao quyền tự chủ nhiều vấn đề như vậy, một số ý kiến tỏ ra lo ngại có thể dẫn tới sự độc đoán, chuyên quyền của người đứng đầu đơn vị, hoặc sự giảm sút vai trò lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, cũng như quyền dân chủ của tập thể cán bộ, viên chức trong một tổ chức KH&CN.
Trước hết phải khẳng định, khi chuyển đổi tổ chức và hoạt động sang cơ chế tự chủ, việc phân cấp triệt để và trao quyền quyết định các vấn đề nội bộ của đơn vị cho Thủ trưởng tổ chức KH&CN là cần thiết và là yếu tố quyết định sự phát triển cũng như hiệu quả hoạt động của tổ chức KH&CN trong cơ chế mới. Tập thể cán bộ, viên chức phải tìm người lãnh đạo có đức, có tài quản lý và biết chăm lo cho sự phát triển của đơn vị, không nên duy trì tiền lệ “sống lâu lên lão làng” hoặc tư duy một chiều “người làm khoa học giỏi sẽ làm quản lý giỏi”, xoá bỏ tình trạng “đùn đẩy trách nhiệm”, “sai phạm tập thể” dẫn đến không thể xử lý được người vi phạm.
Xét về hình thức, Thủ trưởng tổ chức KH&CN có quyền hạn rất lớn, nhưng thực chất quyền hạn đó chỉ có thể được thực hiện khi họ đáp ứng được những điều kiện nhất định và tuân thủ những nguyên tắc nhất định - một trong những nguyên tắc đó là nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu người lãnh đạo tôn trọng nguyên tắc này, tôn trọng quyền làm chủ của tập thể, tôn trọng pháp luật và các quy định của Đảng và Nhà nước thì hoạt động của đơn vị sẽ đạt kết quả tốt, nội bộ đơn vị đoàn kết và vị trí lãnh đạo của người đứng đầu được khẳng định.
Trong quá trình xây dựng Nghị định 115 và Thông tư 12, chúng tôi đã tiếp thu những ý kiến khác nhau và xác định những cơ chế thích hợp bảo đảm sự hài hoà giữa quyền tự chủ của tổ chức KH&CN, quyền của người đứng đầu và quyền dân chủ của tập thể, góp phần giải toả sự lo ngại nói trên trong suy nghĩ của một số cán bộ khoa học. Điều này được thể hiện ở những quy định cụ thể sau:
1. Tổ chức KH&CN khi thực hiện chuyển đổi phải tuân theo trình tự cơ bản gồm 7 bước quy định trong Thông tư 12, trong đó có 3 bước thể hiện rõ tính dân chủ trong quá trình chuyển đổi:
Bước 1: Phổ biến, quán triệt nội dung cơ bản của Nghị định 115 và Thông tư 12 đến toàn thể cán bộ, viên chức trong đơn vị, nhằm làm cho mọi người hiểu rõ quyền và trách nhiệm của từng thành viên khi chuyển sang cơ chế mới, thông suốt về chủ trương và lộ trình chuyển đổi để ủng hộ lãnh đạo đơn vị thực hiện.
Bước 2: Thống nhất trong lãnh đạo tổ chức KH&CN, cấp uỷ và công đoàn cùng cấp về chủ trương, thời hạn chuyển đổi và định hướng phát triển của đơn vị trong giai đoạn quá độ chuyển đổi đến năm 2010. Đây là một bước để cơ quan chủ quản của tổ chức KH&CN phát huy năng lực lãnh đạo, tính sáng tạo và chủ động, đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động cho giai đoạn phát triển mới.
Bước 3: Báo cáo Đề án chuyển đổi tại Hội nghị toàn thể cán bộ, viên chức của đơn vị nhằm tập trung trí tuệ tập thể, góp ý và hoàn thiện Đề án, đảm bảo tính dân chủ rộng rãi và triệt để trước khi thông qua Nghị quyết về Đề án chuyển đổi.
2. Xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ và Quy chế dân chủ ở cơ sở.
Quy chế chi tiêu nội bộ bao gồm các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi tiêu áp dụng thống nhất trong đơn vị, đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ KH&CN các cấp, duy trì hoạt động thường xuyên và tăng cường hiệu quả của công tác quản lý trên nguyên tắc dân chủ, công bằng, công khai, phân phối theo lao động và trách nhiệm của từng vị trí công tác.
Quy chế được xây dựng theo chỉ đạo của Thủ trưởng đơn vị, nhưng phải được bàn bạc với Ban chấp hành công đoàn, được báo cáo tại Hội nghị cán bộ viên chức và phải được ít nhất 2/3 đại biểu chính thức dự Hội nghị biểu quyết tán thành, bằng phương thức bỏ phiếu kín. Sau đó, Thủ trưởng ra quyết định ban hành quy chế, được quyền tự chủ trong chi tiêu, nhưng phải tuân thủ quy chế này. Quy chế cũng được gửi cơ quan chủ quản để báo cáo và gửi Kho bạc Nhà nước, nơi đơn vị mở tài khoản giao dịch để làm căn cứ kiểm soát chi.
Một số nội dung cụ thể của Quy chế chi tiêu nội bộ phản ánh tính chất công bằng, công khai trong việc phân phối thu nhập của các thành viên trong tổ chức theo nguyên tắc người nào có năng suất lao động, hiệu quả công tác cao, trách nhiệm cao và đóng góp nhiều cho việc tăng thu, tiết kiệm chi, thì được hưởng mức thu nhập nhiều hơn. Đồng thời, mọi khoản chi của đơn vị cũng phải thực hiện theo quy định của Quy chế, trong đó, nếu nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước thì phải chi theo quy định hiện hành của Nhà nước, nếu kinh phí từ nguồn tự có sẽ được chi theo định mức riêng của Quy chế, tức là theo thoả thuận của tập thể cán bộ trong đơn vị.
Quy chế dân chủ cơ sở cũng ràng buộc trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị trong mối quan hệ công tác với cấp dưới, với cán bộ, viên chức, xác lập quyền của cán bộ, viên chức trong việc giám sát công tác quản lý điều hành của Thủ trưởng đơn vị, quyền khiếu nại tố cáo khi quyền lợi hợp pháp và chính đáng của cán bộ bị xâm phạm.
3. Quy định rõ trách nhiệm của Thủ trưởng tổ chức KH&CN.
Thủ trưởng tổ chức KH&CN là người đại diện pháp nhân của tổ chức KH&CN, trong quan hệ với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, chịu trách nhiệm về tất cả các hoạt động của đơn vị theo quy định tại Điều 13 của Nghị định 115. Trong đó, một số nội dung quy định Thủ trưởng tổ chức KH&CN phải trao đổi ý kiến với các tổ chức đoàn thể và tập thể cán bộ, viên chức trong đơn vị, ví dụ:
Những việc phải báo cáo với cấp uỷ Đảng trước khi quyết định: Quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động và biện pháp thực hiện; đề án thành lập, sáp nhập, giải thể các tổ chức trực thuộc; bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, cho từ chức, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật các chức vụ lãnh đạo.
Những việc phải bàn bạc với Ban chấp hành công đoàn cùng cấp: Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế dân chủ cơ quan, Quy chế làm việc, Quy định về tuyển dụng, sử dụng cán bộ, viên chức và người lao động, phương án vay vốn tín dụng, hỗ trợ đầu tư.
Những việc phải lấy ý kiến của Hội nghị cán bộ, viên chức: Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế dân chủ cơ quan.
Để làm rõ trách nhiệm của người đứng đầu đơn vị, Thông tư 12 quy định: Khi cấp uỷ Đảng, Ban chấp hành công đoàn có ý kiến chưa thống nhất với Thủ trưởng tổ chức KH&CN về các nội dung nói trên, thì từng tổ chức báo cáo bằng văn bản với cấp trên của tổ chức mình, và Thủ trưởng tổ chức KH&CN là người quyết định cuối cùng và chịu trách nhiệm về quyết định của mình.
Thủ trưởng tổ chức KH&CN khi quyết định về quy hoạch phát triển, kế hoạch hoạt động và biện pháp thực hiện, Quy chế chi tiêu nội bộ, Quy chế dân chủ cơ quan, quyết định về tổ chức, nhân sự phải gửi các quyết định cho cơ quan chủ quản, tức là phải chịu sự giám sát của cơ quan cấp trên.
Để tránh hiện tượng tuỳ tiện trong tuyển dụng và bố trí cán bộ, dẫn tới tình trạng kéo bè, kéo cánh trong đơn vị, Thông tư 12 cũng quy định: Thủ trưởng tổ chức KH&CN có trách nhiệm tổ chức thực hiện quy chế dân chủ, giữ gìn đoàn kết nội bộ, không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ các chức vụ lãnh đạo về tổ chức nhân sự, kế toán - tài chính, thủ quỹ, thủ kho trong đơn vị mình phụ trách.
Với những quy định chặt chẽ này, có thể nói người đứng đầu tổ chức KH&CN có thể chủ động thực hiện quyền của mình trong khuôn khổ quy định của pháp luật và dưới sự giám sát của tập thể. Quyền lợi của cán bộ, viên chức trong các tổ chức KH&CN chuyển đổi (trong đó có quyền dân chủ) sẽ được đảm bảo.
Hy vọng với quy định của Nghị định 115 và Thông tư 12, lãnh đạo tổ chức KH&CN sẽ có cơ sở pháp lý đầy đủ để thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, phát huy tối đa sự năng động, sáng tạo và năng lực quản lý, dám chịu trách nhiệm trước tập thể, trước cấp trên để xây dựng và phát triển đơn vị theo hướng tự chủ, đem lại sức sống mới cho hoạt động KH&CN của tổ chức, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ là đổi mới toàn diện cơ chế quản lý KH&CN trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khẳng định sức mạnh và hiệu quả của KH&CN đối với sự phát triển của đất nước.
Nguồn: Tạp chí Hoạt động khoa học, số 08/2006








