Về quy hoạch tổng thể phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020
Quan điểm phát triển vật liệu xây dựng theo quyết định của Chính phủ có một số nội dung sau:
- Phát triển vật liệu xây dựng trên cơ sở lựa chọn quy mô công suất hợp lý, công nghệ hiện đại, sạch; tiêu tốn ít năng lượng, nguyên liệu; sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế; từng bước loại bỏ các cơ sở sản xuất có công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế thấp.
- Đa dạng hoá các hình thức đầu tư, thu hút mọi nguồn lực vào phát triển sản xuất vật liệu xây dựng. Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia vào sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng…
Về định hướng quy hoạch phát triển vật liệu xây dựng đến năm 2020 bao gồm các sản phẩm xi măng, gạch gốm ốp lát và sứ vệ sinh, kính xây dựng, vật liệu xây dựng, vật liệu lợp, đá xây dựng, cát xây dựng, bê tông xây dựng, đá ốp lát tự nhiên, đá ốp lát nhân tạo, gạch lát bêtông, vật liệu ốp lát với những tính năng đặc biệt, vật liệu hợp kim nhôm, nhựa, thạch cao, vật liệu composite, sơn xây dựng, vật liệu cách âm, cách nhiệt… trong đó quy định cụ thể:
1. Về xi măng
Không đầu tư mới các nhà máy xi măng lò đứng và các trạm nghiền không có cơ sở sản xuất clinke
2. Về gạch gốm ốp lát và sứ vệ sinh
- Công nghệ sản xuất gạch ốp lát hiện đại phải sản xuất được nhiều loại sản phẩm với các kích thước khác nhau; có khả năng ứng dụng các công nghệ trang trí mới để tạo ra các sản phẩm đa dạng có giá trị kinh tế; đồng thời có mức tiêu thụ nhiên liệu và năng lượng như sau:
+ Khí hoá lỏng (LGP) ≤ 0,88 kg/m2 sản phẩm;
+ Dầu diesel ≤ 1,07 kg/m2 sản phẩm;
+ Điện ≤ 2,58 kWh/m2 sản phẩm.
Đối với các cơ sở sản xuất có điều kiện, có thể nghiên cứu sử dụng khí hoá than để thay thế song phải tuân thủ các tiêu chuẩn về khí thải để bảo đảm không làm ô nhiễm môi trường và chất lượng sản phẩm.
- Công nghệ sản xuất sứ vệ sinh hiện đại có khả năng đúc các sản phẩm có kích thước lớn với các tính năng sử dụng hiện đại, giảm tiếng ồn, giảm độ bám dính và tiết kiệm nước khi sử dụng; có khả năng sử dụng lớp phủ nano để nâng cao chất lượng bề mặt sản phẩm; đồng thời có mức tiêu hao nhiên liệu và năng lượng như sau:
+ Khí hoá lỏng (LGP) ≤ 0,275 kg/kg sứ;
+ Dầu diesel ≤ 0,72 kg/kg sứ;
+ Điện ≤ 0,55 kWh/kg sứ.
- Đối với các cơ sở sản xuất có sử dụng các nhiên liệu khác thay thế thì yêu cầu phải đạt các chỉ tiêu tiêu hao tương ứng.
3. Về kính xây dựng
- Đầu tư công nghệ chế biến làm giàu cát phù hợp với các loại cát ở từng khu vực, để sản phẩm đạt chất lượng tốt, bảo đảm yêu cầu của sản xuất kính;
- Không xuất khẩu cát trắng chưa qua chế biến;
- Chú trọng sản xuất các mặt hàng kính có kích thước và độ dày lớn; các loại kính có tác dụng cách âm, cách nhiệt, tiết kiệm năng lượng, kính an toàn, kính có khả năng tự làm sạch phù hợp với khí hậu nóng ẩm mưa nhiều ở nước ta; các loại kính trang trí, nghệ thuật; các loại bloc thuỷ tinh…
- Đầu tư mới theo công nghệ kính nổi hiện đại, tiêu hao nhiên liệu và năng lượng thấp, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Mức tiêu hao nhiên liệu và năng lượng như sau:
+ Dầu FO ≤ 200 kg/tấn sản phẩm;
+ Dầu DO ≤ 0,5 kg/tấn sản phẩm;
+ Điện ≤ 100 kWh/tấn sả phẩm.
4. Về vật liệu xây dựng
Khuyến khích đầu tư phát triển và sử dụng vật liệu xây không nung, hạn chế tối đa việc sản xuất vật liệu xây từ đất nông nghiệp.
- Gạch đất sét nung
+ Đầu tư chiều sâu cải tiến công nghệ sản xuất gạch đất sét nung ở tất cả các cơ sở sản xuất hiện có, nhằm giảm tiêu hao nguyên liệu, nhiên liệu và bảo vệ môi trường.
+ Phát triển các loại gạch có kích thước lớn, độ rỗng cao ≥ 50% để tiết kiệm nguyên liệu và nhiên liệu, tăng tính cách âm, cách nhiệt.
+ Rà soát và tổ chức lại các cơ sở sản xuất gạch thủ công hiện nay để chuyển sang công nghệ lò tuynen hoặc các công nghệ tiên tiến khác bảo đảm tiêu chuẩn về chất lượng môi trường của Việt Nam .
+ Phát triển sản xuất gạch nung chất lượng cao có giá trị kinh tế, đặc biệt là các loại gạch xây không trát phục vụ xây dựng trong nước và xuất khẩu.
+ Khuyến khích việc chuyển đổi nguyên liệu sản xuất từ đất sét trong sản xuất gạch nung sang nguyên liệu đất đồi, đất bãi và phế thải công nghiệp (đá bìa trong khai thác than, đá sít than…).
- Vật liệu xây không nung
+Phát triển sản xuất vật liệu xây không nung từ các nguyên liệu như xi măng, đá mạt, cát và tro xỉ nhiệt điện… theo hướng công nghệ hiện đại, quy mô lớn, kích thước lớn, nhẹ để thay thế dần gạch xây sản xuất từ đất sét nung. Tỷ lệ gạch không nung đến năm 2015 là 20 – 25 và năm 2020 là 30 - 40% tổng số vật liệu xây dựng trong nước;
+ Đầu tư nghiên cứu các đề án phát triển vật liệu không nung;
+ Khuyến khích phát triển sản xuất các loại vật liệu nhẹ, siêu nhẹ dùng để làm tường, vách ngăn, vật liệu chống cháy, chậm cháy, vật liệu cách âm, cách nhiệt, cách điện, tiết kiệm năng lượng.
5. Theo quyết định nêu trên, Chính phủ cũng đưa ra những chỉ tiêu cụ thể về sản lượng vật liệu xây dựng đến năm 2020 như trong bảng 1.
Chủng loại | Đơn vị | Sản lượng năm 2010 | Sản lượng năm 2015 | Sản lượng năm 2020 |
Xi măng | Triệu tấn | 59,02 | 88,5 | 112 |
Gạch ốp lát | Triệu m2 | 206 | 302 | 414 |
Sứ vệ sinh | Triệu sp | 9 | 13 | 21 |
Kính xây dựng | Triệu m2 | 93 | 135 | 200,4 |
Vật liệu xây Trong đó: vật liệu xây không nung | Tỷ tiên Tỷ viên | 25 2,5 | 32 6,4 - 8,0 | 42 12,6 - 16,8 |
Vật liệu lợp | Triệu m2 | 126 | 171 | 224 |
Đá xây dựng | Triệu m3 | 104 | 148 | 204 |
Cát xây dựng | Triệu m3 | 97 | 136 | 190 |








