Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 20/01/2012 19:35 (GMT+7)

Về hình thức liên kết đào tạo quốc tế sau Đại học ở Việt Nam hiện nay

1. Xu thế liên kết đào tạo quốc tế sau đại học.

Như một biểu hiện của toàn cầu hóa trong lĩnh vực giáo dục, liên kết đào tạo quốc tế (LKĐTQT) là quá trình tích hợp các yếu tố quốc tế vào chức năng, nhiệm vụ và tiến trình tổ chức thực hiện giáo dục, đào tạo, diễn ra theo hai hướng:

Thứ nhất, đổi mới chương trình giáo dục, đào tạo, phương pháp dạy và học, hoạt động nghiên cứu và hợp tác trong phạm vi một quốc gia nhằm hướng tới tính quốc tế và tính liên văn hóa trong giáo dục và đào tạo. Xu hướng này còn được gọi là quốc tế hóa giáo dục tại chỗ.

Thứ hai, sự dịch chuyển xuyên biên giới quốc gia của bốn nhân tố cơ bản: người học, nhà giáo, chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục (hay còn gọi là LKĐTQT) trong quá trình đào tạo.

LKĐTQT sau đại học trong những năm gần đây phát triển rất mạnh mẽ và có hai đặc trưng cơ bản:

Một là, bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới vốn có từ lâu của người học và nhà giáo, đã hình thành và tăng cường việc dịch chuyển xuyên biên giới của chương trình giáo dục và nhà cung ứng giáo dục.

Hai là, bên cạnh sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế phi thương mại (thông qua hợp tác quốc tế với các dự án ODA và liên kết đào tạo) đã hình thành và phát triển sự dịch chuyển xuyên biên giới theo cơ chế thương mại.

Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử nhân loại, sự thịnh vượng của quốc gia lại phụ thuộc mạnh mẽ và trực tiếp như vậy và quy mô và chất lượng giáo dục đại hoc và sau đai học. Tuy nhiên, các nước đang phát triển đang đứng trước nguy cơ tụt hậu xa hơn về vấn đề này so với các nước phát triển. Trong cuộc đua giáo dục hiện nay, các nước phát triển có nhiều ưu thế hơn về điểm xuất phát, duy trì dân số ổn định và bảo đảm tiềm lực kinh tế lớn cho giáo dục. Các nước phát triển cũng có động lực mạnh hơn trong phát triển giáo dục hướng tới nền kinh tế tri thức. Chính vì thế, LKĐTQT sau đại học được coi như một lời đáp của cộng đồng đại học trước các thách thức của toàn cầu hóa, với sứ mạng góp phần rút ngắn khoảng cách phát triển giữa các quốc gia, khắc phục sự “tụt hậu” ngày càng xa của các nước đang phát triển.

Trước đây, nhìn chung giáo dục được coi là một hình thức phúc lợi xã hội, hoạt động theo nguyên tắc phi thương mại. Tuy nhiên, từ khi Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (General Agreement on Trade in Services, viết tắt là GATS) được thông qua tại Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), người ta đã nhìn nhận giáo dục là một dịch vụ trong hoạt động thương mại và thương mại dịch vụ giáo dục cần được tự do hóa. Vì vậy, khi nhận diện vấn đề và giải quyết vấn đề về phát triển giáo dục đại học và sau đại học ở Việt Nam trong bối cảnh gia nhập WTO, cần có cách nhìn thống nhất về một số vấn đề chung.

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã xác định, LKĐTQT sau đại học là một trong bảy nhóm nhiệm vụ quan trọng để đổi mới, phát triển giáo dục đại học Việt Nam. Tuy nhiên, đã xuất hiện những bất cập về quản lý trong thời gian qua khi các chương trình liên kết được thực hiện một cách ồ ạt, bùng nổ về số lượng trong cả nước. Những bất cập đó đang làm cho không chỉ các cơ quan quản lý đào tạo mà cả dư luận xã hội lo ngại về chất lượng của các loại hình LKĐTQT này. Nhằm đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng chuyên môn cao theo chuẩn quốc tế, trên cơ sở áp dụng sáng tạo các thành tựu giáo dục, khoa học và công nghệ tiên tiến vào môi trường văn hóa Việt Nam trong hội nhập với khu vực và thế giới, cần thiết phải tăng cường công tác QLNN đối với lĩnh vực LKĐTQT sau đại học.

2. Thực trạng hoạt động liên kết đào tạo quốc tế sau đại học

Những năm gần đây, ở Việt Nam các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài đã đạt được những bước tiến quan trọng, đặc biệt là các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài ở bậc sau đại học.

Theo Cục Đào tạo với nước ngoài của Bộ GDĐT, tính đến tháng 5-2011, tại Việt Nam đã có tổng số 142 chương trình liên kết đào tạo của 52 cơ sở đào tạo được phê duyệt, ngoài ra còn có các chương trình liên kết đào tạo do Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học quốc gia TP.Hồ Chí Minh và các trường đại học vùng cấp phép cho các trường thành viên.

Khoa Quốc tế thuộc Đại học quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở đi đầu thực hiện các chương trình LKĐTQT sau đại học. Từ tháng 7-2002 đến nay, cơ sở này đã hợp tác về đào tạo và nghiên cứu khoa học với 30 trường đại học nước ngoài như đại học Queensland, Edith Cowan (Úc), Đại học West of England (Anh). Các chương trình LKĐTQT sau đại học của Trung tâm Đào tạo Quốc tế - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh từ năm 2000 đến nay đã có 500 học viên cao học theo học các ngành kinh tế và công nghệ thông tin. Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh có khoảng 10 chương trình LKĐTQT sau đại học. Riêng chương trình LKĐTQT sau đại học ngành quản trị kinh doanh với trường Đại học Curtin (Úc) trong năm 2010 đã tuyển sinh 150 học viên cao học. Chương trình LKĐTQT sau đại học của trường Đại học Khoa học Tự nhiên nếu như năm 2010 mới tuyển được 17 học viên ngành công nghệ thông tin thì đến năm 2011 đã tuyển được 120 học viên.

Mặc dù mới được triển khai ở nước ta trong khoảng hơn mười năm trở lại đây, song LKĐTQT sau đại học đã góp phần quan trọng trong việc đào tạo nguồn lực chất lượng cao theo các tiêu chuẩn quốc tế, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước. Đạt được những kết quả nêu trên trước hết là do nỗ lực của các cơ sở giáo dục, đào tạo trong việc nghiên cứu, nắm bắt nhu cầu của xã hội, tìm kiếm mở rộng quan hệ, thiết lập các chương trình liên kết đào tạo với các đối tác nước ngoài. Ngoài ra, công tác định hướng, quản lý của các cơ quan QLNN cũng đóng góp vai trò rất quan trọng.

Bên cạnh những kết quả tích cực, LKĐTQT thời gian qua cũng đã bộc lộ những vấn đề, những bất cập. Dư luận xã hội quan ngại về chất lượng chương trình, chất lượng đào tạo của một số chương trình LKĐTQT. Một số cơ sở giáo dục, đào tạo chưa làm tốt công tác nghiên cứu, lựa chọn đối tác dẫn đến việc kí kết hợp đồng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo chưa đủ uy tín, năng lực và hệ quả tất yếu là chất lượng đào tạo chưa đạt theo những yêu cầu, tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cách quản lý hiện nay của Bộ GDĐT đối với LKĐTQT đã bộc lộ một số điểm hạn chế. Trong điều kiện hiện nay, việc Bộ GDĐT phê duyệt, cấp phép các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài là cần thiết để đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội. Song, cách làm “trường nào muốn vào Việt Nam liên kết đào tạo cũng phải chờ kiểm tra, thẩm định …” đang là trở ngại, vì dễ làm nản lòng những đối tác lớn khi họ có ý định muốn vào Việt Nam để liên kết. Đồng thời, các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài được cấp phép hoạt động không thống nhất về đầu mối cũng như quẩn lý. Một số cơ quan không có chức năng trong lĩnh vực giáo dục đào tạo cũng được cho phép liên kết đào tạo. Ngay trong số các chương trình được phép của Bộ GDĐT cũng xuất phát từ nhiều đầu mối khác nhau, có chương trình do Vụ quan hệ Quốc tế cho phép, có chương trình do Vụ Giáo dục thường xuyên hoặc do các trường Đại học quốc gia cấp phép. Cũng có chương trương trình lại do lãnh đạo bộ trực tiếp phê duyệt… Chính sự không thống nhất về đầu mối cũng như tiêu chí quản lý khiến bức tranh LKĐTQT sau đại học hiện nay ở nước ta khá lộn xộn, nhất là về chất lượng đào tạo, bằng cấp…

3. Một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng liên kết đào tạo quốc tế sau đại học.

Để quản lý có hiệu quả hoạt động LKĐTQT sau đại học, theo chúng tôi, cần tiến hành những giải pháp đồng bộ hướng tới việc hoàn thiện công tác QLNN:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật đối với hoạt động LKĐTQT sau đại học. Trước hết, Bộ GDĐT với tư cách là cơ quan chủ quản cần tiến hành rà soát toàn bộ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực LKĐTQT sau đại học đã ban hành để khắc phục những nội dung bất cập, mâu thuẫn và những khoảng trống pháp lý từ đó có phương hướng sửa đổi, bổ sung; đồng thời nghiên cứu và ban hành các văn bản mới tạo khung pháp lý cho hoạt động QLNN về LKĐTQT sau đại học.Để xây dựng cơ chế, chính sách quản lý phù hợp cần làm rõ các đặc trưng của thị trường giáo dục sau đại học ở Việt Nam, mức độ can thiệp cần thiết của Nhà nước nhằm phát huy mặt tích cực của thị trường, giảm thiểu mặt tiêu cực, đảm bảo yêu cầu công bằng xã hội trong giáo dục. Đây không hoàn toàn là thị trường tự do như trong hoạt động kinh tế, bởi lẽ, các nhà cung ứng dịch vụ giáo dục không theo đuổi lợi nhuận tối đa nhưng vẫn buộc phải cạnh tranh với nhau để nâng cao chất lượng và hiệu quả. Người học có được nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn trường học, nơi học, chương trình học. Chất lượng vẵn là mối quan tâm thường trực của không chỉ các nhà quản lý giáo dục mà còn là của toàn xã hội. Để tăng cường chất lượng các hoạt động LKĐTQT sau đại học cần:

Tiến hành phân cấp quản lý cho các cơ sở LKĐTQT sau đại học theo hướng nâng cao quyền tự chủ, tự chị trách nhiệm của các cơ sở trong việc thực hiện các hoạt động LKĐTQT sau đại học; quy định rõ những tiêu chuẩn, điều kiện cho hoạt động LKĐTQT sau đại học và mức độ chịu sự kiểm tra giám sát của các cơ quan QLNN. Căn cứ vào tiêu chuẩn đó, các trường đại học tự chủ trong quản lý và thực hiện việc tự chịu trách nhiệm về hoạt động LKĐTQT. Ví dụ, hợp tác quốc tế về giáo dục từ trước đến nay đều phải xin phép cơ quan quản lý thì bây giờ Cơ quan QLNN có thể đưa ra quy định để các trường tự xác định đối tác là ai (quy định về mức độ uy tín, được kiểm định ở nước sở tại,…) để hợp tác đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ…

Xây dựng chính sách đầu tư, cơ chế hỗ trợ ban đầu của Nhà nước đối với các cơ sở LKĐTQT sau đại học nhằm tăng cường cơ sở vật chất, từng bước đáp ứng nhu cầu cho các chương trình LKĐTQT sau đại học.

Xây dựng cơ chế ưu tiên sử dụng kinh phí bằng nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý các chương trình LKĐTQT sau đại học.

Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch, kế hoạch phát triển các cơ sở LKĐTQT sau đại học.

Thứ hai,tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra , giám sát nhằm đảm bảo uy tín, chất lượng đào tạo và giá trị văn bằng của các chương trình LKĐTQT sau đại học.

Phát triển LKĐTQT sau đại học phải gắn liền với việc nâng cao trách nhiệm quản lý, kiểm tra, giám sát của các cơ quan QLNN. Cụ thể:

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn đánh giá chất lượng; về điều kiện LKĐTQT sau đại học, chuyên ngành liên kết, điều kiện về cơ sở vật chất đáp ứng các chương trình đào tạo; chuẩn hóa hệ thống đánh giá, kiểm định để có thể quản lý và đảm bảo chất lượng của các chương trình LKĐTQT sau đại học.

Phân công, phân cấp rõ rang thẩm quyền, trách nhiệm quản lý của các cơ sở LKĐTQT sau đại học, các cơ quan QLNN, kiện toàn các cơ quan chuyên trách thanh tra, kiểm tra về LKĐTQT sau đại học, đảm bảo kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và có biện pháp xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm đồng thời yêu cầu chế độ thông tin, báo cáo và trách nhiệm giải trình của các cơ sở thực hiện các chương trình LKĐTQT sau đại học.

Thứ ba, đổi mới công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức hoạt động trong lĩnh vực LKĐTQT sau đại học:

Tiến hành nghiên cứu, khảo sát và đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ LKĐTQT sau đại học tại các cơ quan, tổ chức trong cả nước. Xây dựng tiêu chuẩn về năng lực, trình độ chuyên môn của đội ngũ này.

Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo hướng tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ chuyên trách tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng về kĩ năng quản lý các chương trình LKĐTQT sau đại học ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước.

Xây dựng chế độ, chính sách ưu đãi thích hợp đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác LKĐTQT sau đại học.

Tóm lại, trong điều kiện hiện nay, khi cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển ngày càng mạnh mẽ, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất, phát triển hoạt động LKĐTQT sau đại học trở thành nhân tố quan trọng đối với sự phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao cho xã hội. Để đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của hoạt động này, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách quản lý phù hợp, tạo điều kiện cho việc thúc đẩy hoạt động LKĐTQT sau đại học phát triển./.

Xem Thêm

Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
VUSTA góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi)
Chiều 19/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Tổng hội Y học Việt Nam tổ chức Hội thảo góp ý dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách, bảo vệ quyền lợi của người hiến, bảo đảm công bằng trong điều phối tạng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của y học ghép tạng Việt Nam.
Góp ý kiến Luật Nhà ở (sửa đổi)
Tại hội thảo, nhiều nhà khoa học cho rằng với xu hướng quản trị đô thị hiện nay, dự thảo Luật Nhà ở có thể cân nhắc bổ sung một điều về "Hệ thống dữ liệu nhà ở quốc gia". Đây sẽ là cơ sở để quản lý vòng đời nhà ở, cảnh báo sớm nguy cơ xuống cấp và hỗ trợ hoạch định chính sách.
Góp ý kiến cho Dự án Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật (sửa đổi)
Tăng cường ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các nền tảng số và mạng xã hội để nâng cao hiệu quả tiếp cận pháp luật trong giai đoạn mới. Đây là nội dung được nhiều chuyên gia, nhà khoa học góp ý tại hội thảo “Góp ý Dự án Luật Phổ biến giáo dục pháp luật (sửa đổi) do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối hợp với Hội Khoa học Tâm lí - Giáo dục Việt Nam tổ chức chiều ngày 6/8.
Hoàn thiện thể chế thúc đẩy phát triển ngành xuất bản trong kỷ nguyên số
Sáng ngày 6/8, VUSTA tổ chức Hội thảo đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất bản. Các chuyên gia, nhà khoa học từ các hội thành viên, đơn vị trực thuộc đã tham góp nhiều ý kiến góp phần hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động xuất bản trước sự phát triển nhanh chóng của công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và những thách thức ngày càng lớn trong bảo vệ bản quyền.

Tin mới

TECHFEST Việt Nam 2026 đưa sản phẩm công nghệ đến gần người dân
TECHFEST Việt Nam 2026 sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 13 đến 15/11, khu vực hồ Hoàn Kiếm và phố đi bộ là trung tâm với mô hình không gian mở, đưa các hoạt động trình diễn công nghệ, triển lãm sản phẩm khởi nghiệp và kết nối đầu tư đến gần hơn với người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư.
Liên hiệp Hội Thành phố Hồ Chí Minh và 7 giải pháp phát huy vai trò trí thức
Tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh là một hoạt động quan trọng nhằm phát huy trí tuệ, kinh nghiệm và trách nhiệm xã hội của đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ trong quá trình hoạch định chính sách, quy hoạch và triển khai các chương trình, dự án phát triển.
Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò kết nối của VUSTA với các Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện
Ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức hội thảo đề xuất các giải pháp đổi mới cơ chế phối hợp, phát huy tối đa tiềm năng của mạng lưới 92 Hội ngành trong hoạt động tư vấn, phản biện; khẳng định quyết tâm nâng tầm vai trò cầu nối của VUSTA, biến trí tuệ đội ngũ trí thức KH&CN thành những luận cứ khoa học tin cậy phục vụ các quyết sách của Đảng, Nhà nước và MTTQ.
Đưa tri thức số về bản, giúp người dân làm chủ công nghệ
Phổ biến kiến thức khoa học, kỹ thuật chỉ thực sự phát huy giá trị khi người dân có thể vận dụng vào đời sống. Từ hoạt động giảng dạy của chuyên gia Hội Mã số Mã vạch Việt Nam trong chương trình tập huấn “Người bản số” tại Lào Cai, có thể thấy rõ cách tiếp cận lấy kỹ năng thực hành, khả năng tự chủ và an toàn trên môi trường số làm trọng tâm.
VUSTA tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ tại cơ sở
Nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm và kỹ năng xử lý tình huống cháy, nổ cho cán bộ, nhân viên làm việc tại tòa nhà, ngày 23/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức tập huấn công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu hộ, cứu nạn. Chương trình kết hợp phổ biến quy định pháp luật với hướng dẫn kỹ năng thực hành, góp phần chủ động phòng ngừa và hạn chế thiệt hại khi có sự cố xảy ra.
Phát huy vai trò cầu nối của Liên hiệp Hội Việt Nam trong hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội
Tăng cường kết nối giữa các hội thành viên, đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ với các cơ quan Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao chất lượng hoạt động tư vấn, phản biện, góp phần hoàn thiện chính sách và thúc đẩy phát triển đất nước.
Đắk Lắk: Từ chính sách đãi ngộ đến yêu cầu sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực chất lượng cao
Việc HĐND tỉnh Đắk Lắk thông qua Nghị quyết quy định chính sách thu hút, hỗ trợ đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2026- 2031 thể hiện sự đồng thuận cao đối với yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nền tảng cho phát triển trong giai đoạn mới. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để chính sách đi vào cuộc sống, thu hút được người có năng lực và tạo môi trường để trí thức cống hiến.