Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 19/11/2010 22:47 (GMT+7)

Vai trò của nhà nước trong việc đào tạo nghề - Nhìn từ góc độ kinh tế học

Quan hệ giữa nhà nước và đào tạo nghề

Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết, nhiều ngoại ứng tiêu cực như: ô nhiễm môi trường, độc quyền, bất công... Vì vậy, trong hoạt động kinh tế của xã hội nói chung, nhà nước lúc này không chỉ đơn thuần thể hiện vai trò thu thuế hay cung cấp các dịch vụ quốc phòng, mà còn tích cực khắc phục những khuyết tật của nền kinh tế thị trường.

Một trong những vai trò của nhà nước trong việc khắc phục những khuyết tật của thị trường và đáp ứng nhu cầu chung của xã hội là chức năng cung cấp, đáp ứng nhu cầu về hàng hoá công cộng nhằm phục vụ lợi ích chung mà nhà nước theo đuổi và thông qua đó phục vụ công dân. Nhìn chung hàng hoá công do nhà nước cung cấp không phụ thuộc vào khả năng thanh toán của khách hàng tiêu dùng, tức là giá cả không đưa ra tín hiệu đúng cho điều chỉnh mặt cung. Về cơ bản, các loại hàng hoá công được cung ứng và sản xuất đều đảm bảo cho phép tất cả các thành viên xã hội cùng sử dụng, không cần phân chia khẩu phần, không phụ thuộc nhiều vào số lượng người tiêu dùng và khả năng tiêu dùng của người khác.

Có thể phân chia hàng hoá công do nhà nước cung cấp làm hai loại: một loại là hàng hoá công thuần tuý như: quốc phòng, chính quyền nhà nước, pháp luật có tính quốc gia, bảo vệ môi trường, giáo dục cơ sở và nghiên cứu khoa học cơ bản... và một loại là hàng hoá công không thuần tuý (tức là mang tính chất tư) như: cơ sở hạ tầng, sự nghiệp văn hoá, y tế, nghiên cứu ứng dụng khoa học, giáo dục đại học và giáo dục chuyên nghiệp...

Hàng hoá công thuần tuý có hai đặc tính: tính phi cạnh tranh trong tiêu dùng và tính phi loại trừ. Tính phi cạnh tranh là chỉ bất cứ sự tiêu dùng nào của bất kỳ cá nhân hay tập thể về loại hàng hoá đó đều không ảnh hưởng đến số lượng và chất lượng của hàng hoá đó đến sự tiêu dùng của người khác, điều này có nghiã là chi phí cận biên của hàng hoá công thuần tuý cho việc có thêm một người sử dụng là bằng không. Căn cứ vào nguyên tắc định chi phí cận biên thì khi nhà nước cung cấp hàng hoá công thuần tuý cho xã hội thì không nên thu phí trực tiếp đối với người tiêu dùng. Mặt khác, nếu đem hàng hoá công thuần tuý để phân bổ tiêu dùng theo định suất hoặc hạn chế người sử dụng chúng thì giá thành là “cực đại” và dường như điều này không thể thực hiện được. Vì vậy, việc phân chia theo suất hay khẩu phần cho người tiêu dùng là không cần thiết đối với hàng hoá công thuần tuý, điều này có nghĩa là nhà nước khó có thể thông qua phương thức thu phí để đầu tư cho hàng hoá công thuần tuý, mà chỉ có thể thông qua việc thu thuế để bù đắp giá thành của nó.

Hàng hoá công không thuần tuý là loại hàng hoá vừa có tính chất của hàng hoá công thuần tuý vừa có tính chất của hàng hoá tư nhân thuần tuý, tức là nó có thể hội tụ không đủ hai tiêu chí nói trên hoặc sự kết hợp hai tiêu chí nói trên ở giới hạn nhất định (1), vừa có tính công cộng (tính lợi ích ngoại sinh), vừa có tính cạnh tranh và tính loại trừ. Tính công cộng và tính lợi ích ngoại sinh chứng tỏ trong một phạm vi nhất định, thị trường không thể cung cấp toàn bộ hàng hoá công không thuần tuý, hoặc nếu thị trường có cung cấp thì cũng không hiệu quả, do đó, đòi hỏi nhà nước phải tham gia vào quá trình cung cấp các loại hàng hoá đó. Điều này được lý giải như sau:

Nếu nhà nước sử dụng giá cả thị trường cho các hàng hoá công không thuần tuý, thì quá trình đào tạo nghề do khu vực tư nhân cung cấp sẽ không cần phải tính đến lợi ích ngoại sinh của đào tạo nghề, mà họ chỉ dựa vào giới hạn giá thành và lợi ích cận biên để làm căn cứ cung cấp và phục vụ. Điều này có nghĩa là họ không cần tính đến mức độ ảnh hưởng đối với xã hội, sự tốt, xấu đối với người học, mà hoàn toàn dựa vào các quy luật kinh tế để tính toán việc đào tạo. Nếu như vậy thì việc cung cấp dịch vụ đào tạo nghề về lượng sẽ thấp hơn so với nhu cầu tối ưu của xã hội, vì chi phí đào tạo mà người học phải trả là quá cao, từ đó sẽ tạo nên những tổn thất lớn về phúc lợi. Mặt khác, tính cạnh tranh của sự tiêu dùng hàng hoá công không thuần tuý chỉ rõ: sau khi vượt ra ngoài phạm vi nhất định thì giá thành cận biên của nó tuyệt đối không bằng không, vì nhất định phải do thị trường cung cấp thông qua việc thu phí, nếu không sẽ là cung cấp miễn phí, và như vậy sẽ dẫn đến sự tiêu thụ quá độ loại hàng hoá, dịch vụ này, và như vậy cũng tạo ra những tổn thất lớn về phúc lợi. Hơn nữa, do hàng hoá công không thuần tuý có đặc trưng là có tính biệt lập, vì vậy có căn cứ hiện thực cho việc thu phí đối với các hàng hoá đó.

Từ sự phân tích nêu trên có thể thấy, giáo dục nghề nghiệp là một loại hàng hoá công không thuần tuý, trong một phạm vi nhất định phải do nhà nước cung cấp miễn phí, giá thành của việc cung cấp đó có thể được bù đắp thông qua việc thu thuế, còn sau khi vượt quá phạm vi nhất định thì nên dựa trên nguyên tắc định giá thành cận biên của thị trường để cung cấp dịch vụ.

Chức năng của nhà nước đối với giáo dục nghề trong nền kinh tế thị trường

Trong nền kinh tế thị trường, nhà nước đóng vai trò quan trọng nhất trong quản lý toàn bộ nền kinh tế và cung cấp hàng hoá cho xã hội (thông qua chủ thể của mình là các doanh nghiệp nhà nước, các cơ sở sản xuất thuộc sở hữu nhà nước). Tuy nhiên, tính chất quan trọng của nhà nước còn tuỳ thuộc tính chất của từng loại hàng hoá. Nếu là những loại hàng hoá tư nhân thì nhà nước không cần thiết phải trực tiếp sản xuất mà nên để thị trường cung cấp những loại hàng hoá này, vì hiệu quả kinh tế là thế mạnh của khu vực tư nhân. Hơn nữa, thông qua các chính sách khuyến khích đầu tư, ưu đãi thuế, quyền sử dụng đất, trợ cấp... nhà nước có thể hướng dòng tài chính dịch chuyển từ những ngành có năng suất biên thấp đến ngành có năng suất biên cao hơn, và nhiệm vụ sản xuất hàng hoá cho xã hội có thể đạt được hiệu quả bởi “bàn tay vô hình” tự điều tiết của thị trường (2).

Giáo dục nói chung và giáo dục nghề nói riêng là loại hàng hoá có nhiều bất đối xứng thông tin, có lợi ích ngoại sinh và là công cụ điều tiết thu nhập, vì vậy cơ chế kiểm soát chất lượng cũng như giá cả của nó phức tạp hơn nhiều. Chính điều này làm cho việc quản lý đối với hàng hoá này khó khăn hơn, nhà nước cần có những chính sách quản lý nó. Do mỗi quốc gia có những điều kiện về kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá khác nhau, vì vậy, vai trò, chức năng của nhà nước trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục nói chung và về đào tạo nghề nói riêng ở mỗi quốc gia là khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung Chính phủ mỗi quốc gia đều rất chú trọng phát triển và tìm cách phát huy tác dụng chủ đạo của sự nghiệp giáo dục, thể hiện ở 2 phương diện sau:

Thứ nhất, cung cấp kinh phí đào tạo. Căn cứ chi phí đào tạo đối với mỗi học sinh, nhà nước coi đó là một loại chi phí công chuẩn. Hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường, đối với kinh phí đào tạo nghề, nhà nước là người cung cấp chính. Ví dụ, ở Mỹ, trong những năm 90 của thế kỷ trước, các trường đại học cộng đồng công lập chiếm gần 2/3, còn lại hơn 1/3 là các trường dân lập. Nguồn kinh phí đào tạo của trường công lập chủ yếu lấy từ nguồn thuế của địa phương, nguồn ngân sách Chính phủ bang, nguồn tài trợ của Chính phủ liên bang, nguồn học phí của học sinh, ngoài ra còn từ nguồn trợ cấp xã hội của Chính phủ. Năm 1990, các trường dạy nghề công lập của bang Wisconsin (Mỹ) có cơ cấu nguồn kinh phí đào tạo: 45% từ thuế của địa phương, 20% từ ngân sách Chính phủ bang và liên bang, 10% từ thu học phí, phần còn lại là từ trợ cấp của xã hội và nguồn thu nhập từ quá trình sản xuất của nhà trường (3).

Thứ hai, quản lý và điều tiết quá trình phát triển lĩnh vực đào tạo nghề. Đối với lĩnh vực đào tạo nghề nói riêng và giáo dục nói chung, nhà nước cần có những chính sách quản lý hiệu quả nhằm phát triển ngành giáo dục và đào tạo nghề phù hợp với nhu cầu phát triển của nền kinh tế - xã hội. Các biện pháp quản lý chủ yếu cần tập trung vào việc quy hoạch, xác lập hành lang pháp lý cho quá trình thu phí đào tạo, xây dựng và cung cấp những căn cứ kinh tế cho việc phát triển đào tạo nghề; lập ra những quy phạm và điều chỉnh các quan hệ giữa các ngành nghề và các loại hình đào tạo nghề; đổi mới các mục tiêu định hướng đào tạo nghề theo nhu cầu của thị trường và tiếp cận thị trường dựa trên nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai. Đối với thực tiễn Việt Nam hiện nay, để làm được các việc này, nhà nước nên là chủ thể chính trong đầu tư đáp ứng những đòi hỏi về nhu cầu nhân lực có trình độ tay nghề cao, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đặc biệt trong quá trình cạnh tranh và thu hút đầu tư nước ngoài, nhà nước cần đầu tư xây dựng, nâng cấp thêm nhiều trường dạy nghề chính quy từ bậc trung cấp nghề, cao đẳng nghề, chú trọng đào tạo đội ngũ nhân lực trình độ cao phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Các chính sách cần tập trung vào việc khuyến khích những người sử dụng lao động, các thành phần kinh tế tư nhân, tập thể, các tổ chức chính trị, xã hội, hiệp hội, đoàn thể tham gia vào quá trình đào tạo, đầu tư xây dựng các trường dạy nghề, thực hiện xã hội hoá giáo dục.

Xây dựng những quy định về trách nhiệm xã hội của các trường đào tạo nghề đối với sản phẩm đào tạo của mình; tăng cường mối quan hệ giữa trường đào tạo nghề với doanh nghiệp sử dụng lao động, bảo đảm tính hiệu quả của việc đào tạo được kéo dài, kế thừa đối với mỗi cá nhân người lao động. Xây dựng cơ cấu đào tạo nghề linh hoạt, nâng cao và bảo đảm chất lượng của việc đào tạo. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện pháp luật về dạy nghề vừa phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế, đảm bảo tất cả người lao động được đào tạo đáp ứng yêu cầu của đơn vị sử dụng lao động và xu thế phát triển của xã hội, vừa phát huy được sức mạnh tổng hợp của xã hội trong việc phát triển lĩnh vực đào tạo nghề trong nước cũng như quốc tế 

Ghi chú:

(1) Dẫn theo Vũ Thanh Sơn: “Cạnh tranh đối với khu vực công: kinh nghiệm quốc tế và những vấn đề của Việt Nam”, Luận án tiến sỹ, trang 17, Hà Nội 2007.

(2) Phạm Đức Chính, Vai trò quản lý của Nhà nước trong giáo dục đại học - Góc nhìn từ lý thuyết kinh tế học, Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trong tiến trình đổi mới giáo dục” Hà Nội 9, 10/12/2009.

(3) Trương Hương Cần, Dương Kim Tinh (Trung Quốc): “Nhà nước và Giáo dục trong nền kinh tế thị trường”, Tạp chí thông tin Giáo dục, số 1 năm 2001, trang 12.

(*) Khoa Quản lý giáo dục, trường Đại học giáo dục, Đại học quốc gia Hà Nội

(**) Học viên cao học, trường Đại học Công nghệ Harbin, Trung Quốc

Xem Thêm

Tạo thuận lợi hơn cho công tác tổ chức hội nghị, hội thảo quốc tế
Dự thảo Quyết định điều chỉnh, sửa đổi Quyết định 06/2020/QĐ-TTg ngày 21/02/2020 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức, quản lý hội nghị, hội thảo quốc tế tại Việt Nam nhằm giải quyết những vướng mắc trong quy định hiện hành, tăng cường phân cấp và đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Để trí thức khoa học tham gia sâu hơn vào công tác Mặt trận
Hội thảo khoa học tại Hà Nội ngày 6/11/2025 đánh giá thực trạng sự tham gia, phối hợp của Liên hiệp Hội Việt Nam trong các hoạt động chung của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giai đoạn 2015-2025. Các chuyên gia thẳng thắn chỉ ra những thành tựu, hạn chế và đề xuất giải pháp cho giai đoạn tới.
Còn nhiều rào cản trong thực thi bộ tiêu chuẩn ESG
Hầu hết các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) nói chung và DNVVN nói riêng trên địa bàn Thành phố Hà Nội gặp nhiều rào cản và thách thức trong thực thi tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).
Đắk Lắk: Góp ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng
Ngày 13/6, Liên hiệp hội tỉnh đã tổ chức góp ý kiến đối với dự thảo kế hoạch tổ chức hội nghị lấy ý kiến văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng và dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2025 – 2030.
Hà Giang: Góp ý dự thảo sửa đổi Luật Chất lượng sản phẩm
Ngày 13/6, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (Liên hiệp hội) tỉnh đã tổ chức hội thảo góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hoá (CLSPHH). Tham dự hội thảo có lãnh đạo đại diện các Sở, ban ngành của tỉnh, các hội thành viên Liên hiệp hộivà các chuyên gia TVPB.
Đắk Lắk: Hội nghị phản biện Dự thảo Nghị quyết về bảo đảm thực hiện dân chủ cơ sở
Sáng ngày 27/5/2025, tại trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Đắk Lắk (Liên hiệp hội) đã diễn ra Hội nghị phản biện và góp ý đối với Dự thảo Nghị quyết của Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Đắk Lắk về việc quyết định các biện pháp bảo đảm thực hiện dân chủ ở cơ sở trên địa bàn tỉnh.
Phú Thọ: Lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013
Sáng ngày 20/5/2025, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ (Liên hiệp hội) tổ chức hội thảo lấy ý kiến của đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học về dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.