Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ hai, 08/12/2008 15:15 (GMT+7)

Vai trò của cộng đồng trong bảo tồn và phát triển môi trường biển

Các cộng đồng cư dân biển - ven biển Việt Nam

Trong số tất cả những người dân làm nghề biển và liên quan đến hoạt động kinh tế biển (thủy thủ, công nhân dầu khí, du khách và ngư dân) thì ngư dân chiếm phần đông, là lực lượng tạo nên “văn hóa biển cả” với các vạn chài xưa, với các phong tục cầu ngư… là lực lượng bám biển hàng ngày và có địa bàn hoạt động rộng khắp vùng biển tổ quốc. Hiện nay, chúng ta có khoảng 10.000 tàu thuyền với trên 80.000 ngư dân hoạt động thường ngày trên vùng biển. Họ là những tai mắt và yếu tố hiện diện dân sự, và là lực lượng không thể thiếu trong thế trận chiến tranh nhân dân trên vùng biển. Cộng đồng ngư dân cũng là nguồn cung cấp nhân lực chủ yếu cho ngành kinh tế biển, cho lực lượng an ninh quốc phòng trên biển. Trong khi đó, biển chỉ là con đường đi qua của các thủy thủ, là nơi nghỉ dưỡng ngắn ngày của du khách và là nơi làm việc tập trung ngắn ngày của công nhân dầu khí trên một số giàn khoan.

Vùng Bắc bộ gồm có 5 tỉnh, thành phố: từ Quảng Ninh đến Ninh Bình, gồm 20 huyện, thị xã có 100 xã phường; Vùng Bắc Trung bộ có 6 tỉnh: từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế với 30 huyện, thị xã có 187 xã phường; Vùng Nam Trung bộ có 7 tỉnh, thành phố: từ Đà Nẵng đến Ninh Thuận với 32 huyện, thị xã có 160 xã phường; Vùng Đông Nam bộ gồm 3 tỉnh, thành phố: Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí minh gồm 9 uyện, thị xã có 62 xã phường; Vùng đồng bằng sông Cửu Long gồm 7 tỉnh: từ Tiền Giang đến Kiên Giang với 24 huyện, thị xã có 119 xã phường.

Trong các cộng đồng ngư dân, có 10% nằm tại các thị trấn, thị xã, 40% nằm tại các bãi ngnag và 50% nằm ở hai bên cửa sông, lạch. Riêng các tỉnh miền Trung từ Thanh hóa đến Ninh Thuận các bãi ngang chiếm 67% tổng số xã, phường ven biển và có đến 157 xã bãi ngang nghèo nhất nước (năm 2004).

Cũng cần nhấn mạnh rằng, 51% số dân sinh sống ở vùng ven biển là nữ giới và sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên biển, nhưng ít được tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực cho phát triển như nam giới, học vấn và kỹ năng tiếp cận thông tin hạn chế, các khuôn mẫu truyền thống về giới vẫn còn tồn tại. Vì vậy, cần chú ý đến vấn đề bình đẳng giới trong phát triển cộng đồng và lôi cuốn cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường biển.

Căn cứ vào tập quán cư trú, nguồn lợi, quan hệ xã hội, đời sống tôn giáo… mà cộng đồng ngư dân Việt nam được chia thành một số nhóm chính như: Cộng động ngư dân vùng cửa sông - đầm phá; Ngư dân bãi dọc; Ngư dân bãi ngang; Cộng đồng dân cư ở các vùng - vịnh; Cộng đồng cư dân sống trên các đảo nhỏ. Phần lớn những cộng đồng cư dân này đều có nguồn gốc từ nông nghiệp chuyển sang, khả năng đánh bắt xa bờ yếu, nhất là bãi ngang trong đó có lý do không có nơi cư trú thuyền tránh bão, sở trường đánh bắt gần bờ. Chính vì thế, từ xưa người ta đều có quan niệm là ngư trường là của chung và điều này vẫn còn ảnh hưởng rất lớn đến ngày nay khi mà trong quản lý người ta tiếp cận mở khiến cho môi trường sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản bị hủy diệt.

Bên cạnh tính phức tạp về nguồn gốc ngư dân đang phải đối mặt hàng ngày với tính khốc liệt của biển cả, cột chặt cuộc đời với con thuyền nên tư duy của họ hết sức giản đơn. Từ đó hình thành trong các cộng đồng này một lối sống, một nền văn hóa và phong tục tập quán sinh hoạt riêng. Thực tế cũng hình thành trong họ một bản lĩnh vững vàng, tính cạnh tranh cao trong cuộc sống, chấp nhận rủi ro và xem sản vật đánh bắt được như là một món quà tặng của biển trời.

Ngoài tính đặc thù nói trên, cộng đồng biển còn có những đặc tính chung của cộng đồng mà qua đó ta có thể thấy sự khác biệt với các hiệp hội, câu lạc bộ và tổ chức quần chúng xã hội khác như có tính đồng nhất về địa lý, có chung lợi ích và đồng nhất về văn hóa. Sự quan hệ giữa các thành viên thể hiện tính cộng đồng cao, biết chia sẻ, biết hợp tác thân thiện. Họ gắn kết với nhau bằng những quan hệ vốn có, thân tình, chủ yếu theo dòng tộc, vừa là huyết thống, vừa là khuôn mẫu văn hóa trong sinh hoạt cộng đồng. Việc sáng tạo tập thể được đề cao hơn vai trò cá nhân, kiến thức bản địa luôn được coi trọng và duy trì, tôn trọng tính đồng thuận khi cộng đồng ra quyết định.

Những năm gần đây, Chính phủ đã có những bước tiến quan trọng cải thiện trao đổi thông tin, tăng cường dân chủ cơ sở, hình thành khung pháp lý cho cộng đồng cư dân tham gia vào các quá trình ra quyết định ở các địa phương. Tuy nhiên, năng lực của các cộng đồng địa phương còn bị hạn chế, nhận thức về quyền hạn và trách nhiệm của họ còn chưa cao. Để các tổ chức cộng đồng phát triển tích cực cần phải chú ý tăng cường năng lực và tạo sức mạnh cho họ, qua đó họ có khả năng kết nối các thành viên và khả năng tự tổ chức bảo vệ quyền lợi của mình.

Như vậy, đối với biển, cộng đồng tham gia không chỉ bảo tồn bảo vệ môi trường biển theo nghĩa đơn thuần của nó mà còn kết hợp đan xen tham gia phát triển tài nguyên biển, kinh tế biển và bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển. Khác với các cộng đồng trên đất liền, cộng đồng biển có mức độ lệ thuộc vào nguồn tài nguyên biển cao hơn, gắn bó hơn. Biển thực sự là môi trường sinh cư và nơi nương tựa sinh kế của các cộng đồng cư dân ven biển. Như vậy, rõ ràng cộng đồng phải là chủ thể chứ không chỉ khách thể như trong thực tế quản lý hiện nay.

Cộng đồng tham gia quản lý môi trường biển - một đòi hỏi khách quan

Đã có lúc biển và vùng bờ có nhiều cơ quan quản lý khác nhau nhưng vẫn còn chồng chéo về chức năng nhiệm vụ, trong khi đó còn có những mảng trống bị bỏ ngỏ không ai có trách nhiệm giải quyết. Đến nay vẫn đề này mới được làm rõ hơn qua một loạt quyết định mới của Thủ tướng Chính phủ qui định lại chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của các bộ, ngành, địa phương. Theo đó Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lý các vùng đất ngập nươc, môi trường và biển. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý đa dạng sinh học, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và quản lý các khu bảo tồn biển. Tuy nhiên, vẫn thiếu các cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý, cơ quan khoa học và các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong việc sử dụng và quản lý tài nguyên biển. Đặc biệt sự tham gia của cộng đồng địa phương và tiến trình quản lý còn rất thụ động và chưa thường xuyên thực hiện tốt các nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Nhưng thực tế cộng đồng ngư dân là một lực lượng tham gia hầu hết các hoạt động liên quan đến biển và đảo trong vai trò quan trọng thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Cộng đồng biển, đảo là lực lượng làm ra của cải xã hội từ nguồn tài nguyên thiên nhiên biển, tạo ra công ăn việc làm trong nghề cá, giúp xóa đói, giảm nghèo cho đất nước. Họ cũng vừa là người tiếp nhận và sáng tạo khoa học - công nghệ, tăng cường kinh tế-xã hội biển, đảo, đồng thời là lực lượng quan trọng trong bảo vệ tài nguyên và môi trường biển, quản lý vùng trời, giữ gìn biển, đảo.

Vấn đề sở hữu đất và mặt nước ở vùng bờ hiện nay chưa rõ. Tình hình thực thi pháp luật trên biển và vùng ven bờ nước ta còn yếu. Chính sách quản lý môi trường biển chưa đồng bộ và hệ thống, phạm vi điều chỉnh của các chính sách đôi khi chưa rõ ràng, chưa sát với thuộc tính của đối tượng quản lý. Mâu thuẫn lợi ích trong việc sử dụng đa ngành, đa mục tiêu tài nguyên biển và vùng ven bờ không những không giảm mà còn có chiều hướng tăng.

Trên thực tế, với sự mất cân đối giữa khai thác và bảo vệ nguồn lợi thì nguồn lợi thủy sản và môi trường biển, đảo sẽ không là đối tượng khai thác mà còn là nạn nhân của chính ngư dân. Do vậy, sự nghiệp bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường biển chỉ thành công khi có sự biến chuyển về nhận thức và sự tham gia tự nguyện tích cực của cộng đồng ngư dân mà không có lực lượng nào thay thế được họ. Bởi chính ngư dân hiểu hơn ai hết miếng cơm manh áo của họ cũng như khát vọng thoát nghèo và vươn lên làm giàu từ chính đối tượng họ khai thác, sử dụng hàng ngày. Một nghịch lý đang tồn tại trong cộng đồng ngư dân là nhận thức về sự cần thiết phải bảo vệ nguồn lợi ngày càng tăng lên thì khai thác lại càng nhiều và manh mún. Điều đó gợi mở cho các vấn đề về cơ chế chính sách trong việc thay đổi hành vi bảo vệ nguồn lợi biển, đảo của ngư dân và vấn đề qui hoạch tổng thể không gian sinh tồn biển đảo.

Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nghề cá là phương kế góp phần tích cực về công cuộc xóa đói giảm nghèo không chỉ về mặt thu hút lực lượng lao động có việc làm mà về mặt thu nhập ngày càng cao. Trong bối cảnh tình trạng thiếu việc làm có xu hướng ngày càng tăng thì ngư dân với những nghề nghiệp đặc thù của mình đã thu hút một lực lượng đông đảo lao động phổ thông vào hoạt động sản xuất kinh doanh nguồn lợi từ tự nhiên. Cùng với việc thu hút lực lượng lao động, chính họ đã góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp của cộng đồng ngư dân và nông thôn ven biển. Điều đó có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định và an sinh xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Trong quá trình phát triển, hàng loạt công trình nghiên cứu khoa học và triển khai ứng dụng công nghệ hữu ích ra đời từ cuộc sống thực tế của cộng đồng ngư dân đã góp phần cung cấp các luận chứng khoa học cho việc xây dựng và hòan thiện các chính sách kinh tế - xã hội nhằm thay đổi bộ mặt các làng cá ven biển, đảo và cải thiện sinh kế cho cộng đồng ngư dân. Những hiểu biết về tài nguyên môi trường và kinh nghiệm sản xuất của ngư dân là nguồn kiến thức bản địa, là nguồn tư liệu phong phú và có giá trị đối với tái sản xuất và phát triển khoa học - công nghệ biển. Như vậy, ngư dân không chỉ là đối tượng để chuyển giao khoa học - công nghệ mà còn là lực lượng phát kiến khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới. Hoạt động bảo vệ môi trường biển của cộng đồng luôn gắn liền với quá trình sản xuất. Biển là môi trường động, linh hoạt, luôn chứa đựng yếu tố xuyên biên giới và ô nhiễm biển thuộc dạng không định rõ nguồn. Vì vậy, cộng đồng phải được chuyển giao quyền và có lợi để họ thực sự tự giác và chủ động tham gia vào sự nghiệp bảo vệ môi trường biển.

Các hệ thống tài nguyên biển thuộc dạng tài nguyên chia sẻ, nhiều ngành và nhiều cộng đồng có quyền tham gia hưởng dụng, nhưng phải biết cùng nhau giữ gìn.

Xem Thêm

Phát triển nhân lực trẻ cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách phát triển nhân lực trẻ chất lượng cao trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, hàng không vũ trụ và năng lượng nguyên tử, với thời hạn hoàn thành trong quý IV/2026.
Thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức
Sáng ngày 28/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã phối hợp với Viện Khoa học và Quản lý kinh tế (IESEM) tổ chức hội thảo "Thực trạng và giải pháp thúc đẩy khởi nghiệp đổi mới sáng tạo gắn với tự tự tạo việc làm cho thanh niên trí thức trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0".
Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.

Tin mới

Lào Cai: 52 đề tài xuất sắc sẽ được trao giải Cuộc thi lần thứ 21
Chiều 3/11, Ông Giàng Quốc Hưng - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh, Trưởng Ban Tổ chức Hội thi Sáng tạo kỹ thuật (Hội thi) và Cuộc thi Sáng tạo thanh, thiếu niên, nhi đồng tỉnh (Cuộc thi), chủ trì cuộc họp thống nhất công tác chuẩn bị tổng kết, trao giải Cuộc thi lần thứ 21 và phát động Cuộc thi lần thứ 22.
Cải cách hành chính và chuyển đổi số ở cơ sở cần thực chất hơn
Năm 2026, khi mô hình chính quyền địa phương hai cấp đi vào vận hành, cải cách hành chính và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu cao với chính quyền cơ sở. Qua khảo sát tại phường Tuy Hòa, Cư Bao, xã Sơn Hòa, Sông Hinh, Ea Na và Yang Mao, Hội đồng tư vấn Dân chủ – Pháp luật thuộc Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh Đắk Lắk ghi nhận nỗ lực của địa phương và những vấn đề cần tháo gỡ để nâng cao chất lượng phục vụ.
Tôn vinh tinh hoa đạo học, tiếp nối mạch nguồn hiền tài dân tộc
Từ ngày 5 - 15/11, thành phố Hà Nội tổ chức chuỗi hoạt động kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc Tử Giám (1076–2026), với nhiều chương trình văn hóa, nghệ thuật, triển lãm, trải nghiệm di sản và hội thảo khoa học. Đây là dịp tôn vinh những giá trị bền vững của nền Quốc học Việt Nam, khơi dậy truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo và tinh thần trọng dụng hiền tài.
Đắk Lắk: Phản biện hồ sơ Dự án nhà máy điện gió, điện mặt trời
Sáng 29/10, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh đã tổ chức Hội đồng góp ý, phản biện xã hội và phản biện khoa học đối với hồ sơ đề nghị chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án Nhà máy điện gió E&M Đắk Lắk tại xã Ea Knốp và xã Cư Prao; Dự án Nhà máy điện mặt trời Jang Pông 2 tại xã Ea Wer.
Góp ý Luật luật An toàn, vệ sinh lao động: Lấy bảo vệ con người và quản trị rủi ro làm trung tâm
Ngày 30/10/2026, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp Hội Khoa học Kỹ thuật An toàn Vệ sinh Lao động Việt Nam (VOSHA) tổ chức Hội thảo "Góp ý dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động". Hội thảo do PGS.TS Phạm Ngọc Linh, Phó Chủ tịch VUSTA và GS.TS Lê Vân Trình, Chủ tịch VOSHA đồng chủ trì.
VUSTA công bố các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt
Ngày 30/10/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) đã trang trọng tổ chức Hội nghị công bố các quyết định quan trọng về công tác cán bộ. Lãnh đạo VUSTA đã trao quyết định nghỉ hưu hưởng chế độ cho 02 cán bộ, chuyên viên, đồng thời trao các quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ chủ chốt nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Liên hiệp Hội Việt Nam hưởng ứng tháng “Vì người nghèo”
Sáng 27/10, tại Hội trường xã Quốc Oai, Khối thi đua các tổ chức thuộc lĩnh vực Khoa học - Kinh tế - Pháp luật - Giáo dục - Đối ngoại thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Hà Nội, Hội Luật gia thành phố Hà Nội và xã Quốc Oai tổ chức Hội nghị “Nghe dân nói, nói dân nghe” và thực hiện Tháng cao điểm vì người nghèo 2026.
Thủ tướng mong muốn đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng kiến tạo chuỗi giá trị mới
Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2026, Thủ tướng Lê Minh Hưng khẳng định Việt Nam mong muốn các đối tác quốc tế không chỉ đầu tư, sản xuất tại Việt Nam mà cùng nghiên cứu, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và kiến tạo những chuỗi giá trị mới.
Tạo động lực tăng trưởng xanh từ khoa học, công nghệ
Chính phủ Việt Nam nhiều lần khẳng định quan điểm "không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế". Trong bối cảnh đó, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa yêu cầu tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu thông qua các giải pháp khoa học, công nghệ đang trở thành yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Hội nghị Đoàn Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam lần thứ nhất (khóa IX)
Chiều 28/10, tại Hà Nội, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tổ chức Hội nghị Đoàn Chủ tịch lần thứ nhất (khóa IX), nhiệm kỳ 2026 - 2031. Hội nghị tập trung thảo luận, đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản nền tảng quan trọng, đánh giá kết quả hoạt động từ sau Đại hội IX, đồng thời đề ra nhiệm vụ trọng tâm đến cuối năm 2026.
Hội nghị BCH Đảng bộ Liên hiệp Hội Việt Nam tháng 10/2026: Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai các nhiệm vụ trọng tâm
Sáng 28/10, tại Hà Nội, Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ nhằm đánh giá kết quả công tác tháng 10, xác định nhiệm vụ trọng tâm tháng 11/2026 và triển khai một số nội dung quan trọng liên quan đến công tác xây dựng Đảng.