Ung thư dạ dày – ác tính nhưng không vô vọng
Trong các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống của bệnh nhân UTDD, thì giai đoạn phát triển của bệnh sớm hay muộn và phạm vi phẫu thuật rộng rãi hay hạn chế là những yếu tố quan trọng nhất. Vì vậy, chẩn đoán sớm và phẫu thuật triệt để là chiến lược mang tính toàn cầu trong điều trị UTDD. Ở Nhật Bản và các nước tiên tiến Âu-Mỹ, nhờ các biện pháp phát hiện sớm và những thành tựu trong kỹ thuật điều trị phẫu thuật nên tỉ lệ sống trên 5 năm sau mổ đạt trên 60%. Ở nước ta, những năm trước đây, bệnh nhân thường được chẩn đoán muộn và tiên lượng xấu, tỉ lệ sống 5 năm sau mổ chỉ đạt dưới 20%. Thời gian gần đây, việc áp dụng rộng rãi nội soi ống mềm trong chẩn đoán cùng với những nhận thức tiến bộ về UTDD trong nhân dân đã cho phép chẩn đoán bệnh ngày càng sớm hơn. Kết quả các công trình nghiên cứu về phẫu thuật triệt để với nạo vét hạch rộng rãi đã mở ra nhiều triển vọng mới cho điều trị UTDD.
UTDD có thể gặp ở bất cứ vị trí nào của dạ dày nhưng hay gặp nhất là vùng hang môn vị (60-70%), tiếp theo là bờ cong nhỏ (18-30%) và một số vùng khác như: đáy vị tâm vị, môn vị (từ 5 đến 12%). Kích thước khối UTDD cũng rất đa dạng, tùy theo giai đoạn bệnh. Có thể chỉ vài xăng-ti-mét (sớm) đến 10cm trong UTDD tiến triển, thậm chí chiếm toàn bộ dạ dày trong ung thư thể thâm nhiễm muộn. Kích thước khối UTDD là một trong những yếu tố tiên lượng quan trọng đối với UTDD. Khi khối u phát triển rộng theo chiều ngang thì đồng thời cũng dần dần xâm lấn sâu hơn do đó có sự tương quan gần như trực tiếp giữa kích thích UTDD với độ sâu xâm lấn và di căn hạch. Theo đó, UTDD có kích thước càng lớn và độ xâm lấn càng sâu thì tỉ lệ sống trên 5 năm sau mổ càng giảm. Đồng thời, tỉ lệ sống trên 5 năm sau mổ cũng giảm dần khi phạm vi di căn hạch rộng hơn, số lượng hạch di căn nhiều hơn.
Phẫu thuật điều trị UTDD được chia làm hai loại: Tạm thời và triệt để. Phẫu thuật tạm thời thường áp dụng ở giai đoạn quá muộn, không còn khả năng cắt bỏ khối u nên các phẫu thuật chỉ để khắc phục các biến chứng hẹp tắc. Trường hợp đã có di căn xa mà khối UTDD nguyên phát còn khả năng cắt được thì cũng dùng phẫu thuật cắt dạ dày tạm thời để tránh các biến chứng do khối u gây ra. Phẫu thuật triệt để là "cắt dạ dày rộng rãi" nhằm đảm bảo các điều kiện: cắt bỏ một phần hay toàn bộ dạ dày có tổn thương ung thư, không còn tế bào ung thư tại đường cắt trên và dưới khối UTDD, lấy bỏ toàn bộ hệ thống hạch di căn, lấy bỏ được hết tổ chức bị xâm lấn và di căn.
Cùng với phẫu thuật cắt bỏ khối u và di căn, từ những năm 60 của thế kỷ trước, ý tưởng nạo vét hạch lymphorộng rãi để làm tăng kết quả điều trị UTDD đã được thực hiện tại Nhật Bản. Ngày nay, kỹ thuật nạo vét hạch đã trở thành một phần quan trọng trong phẫu thuật điều trị UTDD. Nạo vét hạch rộng rãi không những cải thiện được thời gian sống thêm mà còn giúp đánh giá chính xác được giai đoạn của bệnh. Muốn có thông tin chính xác về tình trạng di căn hạch bệnh, cần phải nạo vét tất cả các nhóm hạch và xét nghiệm vi thể tất cả các hạch được lấy ra. Đây là một việc làm rất khó khăn và phức tạp, nên gần đây các tiến bộ y học đã dùng phương pháp định hướng bằng chất màu các-bon hoạt tính phân tử nhỏ (CH-40) cho phẫu thuật nạo vét hạch trong điều trị UTDD. Tuy nhiên, nạo vét hạch rộng rãi có hạn chế là làm tăng nguy cơ biến chứng của phẫu thuật. Vì vậy, không thể áp dụng nạo vét hạch rộng rãi cho mọi trường hợp điều trị UTDD mà phải lựa chọn mức độ nạo vét hạch phù hợp với từng giai đoạn của bệnh. Một công trình nghiên cứu gần đây ở khoa B3 Quân y viện 108 cho thấy: Nhờ phẫu thuật cắt dạ dày triệt để kết hợp nạo vét hạch phù hợp, tỉ lệ bệnh nhân sống trên 5 năm sau mổ là 33,8%.
Hiện nay, khoa học chưa thể khẳng định UTDD có phải là bệnh di truyền hay không, nhưng trên thực tế thì khá nhiều trường hợp có biểu hiện "gia truyền". Điều này có thể do các thế hệ trong một gia đình có chung một số yếu tố gây bệnh như môi trường sống (nước, không khí), chế độ ăn uống, nền nếp sinh họat, v.v… Như vậy, cải thiện môi trường sống, ăn uống bảo đảm vệ sinh và đủ dinh dưỡng, tránh ăn uống các chất kích thích gây tổn thương niêm mạc dạ dày, sinh hoạt nền nếp và lành mạnh… là những cách phòng ngừa UTDD tích cực. Khi cơ thể có những triệu trứng như đau tức và nóng rát vùng thượng vị, bụng đầy hơi, gầy yếu và sút cân… thì phải lập tức đi khám kiểm tra dạ dày. Tốt nhất, là đến các cơ sở y tế có điều kiện nội soi và sinh thiết để phát hiện UTDD sớm. Những người đã được chẩn đoán viêm dạ dày mãn tính cần nội soi khám dạ dày định kỳ theo chỉ dẫn của bác sĩ. Chỉ như vậy thì bệnh nhân UTDD mới được chẩn đoán sớm và mổ triệt để, kéo dài thời gian sống nhiều năm sau khi mổ.
Nguồn: quandoinhandan.org.vn1/7/2006








