Ứng dụng kỹ thuật canh tác bền vững trên đất dốc
Theo báo cáo của Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, phần lớn diện tích đấtmiền núi phía Bắc có dộ dốc lớn, trong đó đấtdốc dưới 15 độ chiếm 22%, đấtcó độ dốc từ 15-15 độ chiếm trên16%, còn lại là đấtcó dộ dốc trên25 độ. Do thiếu đấtsản xuất nên nông dân các tỉnh miền núi vẫn phải canhtáctrêndiện tích đấtcó độ dốc trên25 độ. Với độ dốc như vậy, việc xói mòn đấtxảy ra rất mạnh, đấtnhanh bị thoái hoá và thời gian canhtácsử dụngđấtbị rút ngắn (thường chỉ sau 2-3 vụ trồng cây lương thực ngắn ngày và vài vụ trồng sắn là đấtbị bỏ hoang hoá, không còn khả năng hồi phục). Hiện một diện tích không nhỏ đấtở các tỉnh như Sơn La, Phú Thọ... từ chỗ canhtácđược nay đã bị rửa trôi tầng mặt trở nên không canhtácđược, bỏ hoang. Nhiều diện tích đấttrống, đồi núi trọc ở các tỉnh miền núi chính là hậu quả của một thời gian canhtácbừa bãi. Đã có thời gian, diện tích loại đấttrống, đồi núi trọc có diện tích lên tới hơn 10 triệu ha (chiếm gần 30% diện tích đấttự nhiên của cả nước). Trong nhiều năm gần đây, do sức ép gia tăng dân số, gia tăng nhu cầu mở rộng diện tích đấtsản xuất nên người dân vẫn phải khai thác và sản xuất trêndiện tích đấtdốc. Tuy nhiên, với loại hình đấtnhạy cảm này, việc canhtáckhông đúng kỹthuật, không quan tâm tới việc duy trì và cải thiện môi trường đấtkhiến cho nguồn tài nguyên này lại tiếp tục rơi vào tình trạng thoái hoá.
Gắn bó với địa bàn miền núi, trong nhiều năm qua, các nhà khoa học của Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã nghiên cứu các kỹthuậtcanhtáctrênđấtdốc, trong đó tập trung vào các biện pháp canhtáccó che phủ gốc, chống xói mòn; làm ruộng bậc thang, tiểu bậc thang hoặc canhtáctheo mô hình đường đồng mức... Tại diễn đàn Khuyến nông @ Công nghệ với chủ đề " Canhtácbềnvữngtrênđấtdốc" do Trung tâm Khuyến nông - Khuyến ngư Quốc gia phối hợp với Viện KHKT nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc tổ chức mới đây, rất nhiều mô hình canhtácbềnvữngtrênđấtdốc đã được giới thiệu tới các nhà quản lý, các cán bộ khuyến nông và nông dân các địa phương. Nhiều mô hình ứngdụngcác biện pháp này đã được Viện phối hợp cùng các địa phương triển khai với nhiều loại cây trồng như mô hình trồng cây ăn quả kết hợp cây lương thực ngắn ngày, cây thức ăn gia súc và cây cải tạo đất; mô hình trồng cao su xen ngô, đậu đỗ, mô hình trồng cỏ chăn nuôi trong vườn cây ăn quả, trong rừng mới trồng, mô hình cao su xen chè... Đặc biệt, nhiều loại thực vật cải tạo đấtnhư cây lạc lưu niên (lạc dại), đậu mèo, đậu kiếm hay các vật liệu che phủ đấtnhư cỏ guột tế, tàn dư cây trồng như thân ngô, lá mía, thân lá đậu đỗ... đã được Viện nghiên cứu và đưa vào thử nghiệm với các mô hình canhtáctrênđấtdốc có che phủ đấtvừa giảm được độ xói mòn, tăng độ phì nhiêu của đất, đồng thời hạn chế cỏ dại và tăng tácđộng của phân bón đối với cây trồng. Các mô hình này đều mang lại những kết quả khả quan, vừa đảm bảo tăng năng suất cây trồng, vừa có tácdụngbảo vệ tài nguyên đấtbềnvững.
Tuy nhiên, vấn đề các nhà khoa học trăn trở vẫn là việc làm thế nào để các mô hình này được triển khai và áp dụngrộng rãi ở các địa phương. Theo TS. Lê Quốc Doanh, xuất phát từ thực tiễn đặc tính đấtđai ở từng vùng, từng khu vực khác nhau, trình độ và tập quán của mỗi dân tộc ở miền núi cũng không giống nhau nên các mô hình canhtáctrênđấtdốc đã được nghiên cứu rất đa dạng với mục đích để nông dân có sự lựa chọn phù hợp, dễ ứngdụngvào sản xuất. Tuy nhiên, trênthực tế, diện tích áp dụngcác mô hình này còn quá nhỏ so với tiềm năng và yêu cầu của sản xuất nông nghiệp và bảo vệ môi trường. Vì vậy, để các mô hình này được đưa vào sản xuất, các địa phương cần có cơ chế khuyến khích nông dân ứngdụngcác biện pháp bảo vệ và nuôi dưỡng nguồn tài nguyên đấtdốc.
TS. Lê Quốc Doanh cũng cho rằng, thay đổi tập quán sản xuất của đồng bào là vấn đề không đơn giản. Tuy nhiên, các địa phương, cơ quan khuyến nông nên đi từ những biện pháp đơn giản như sử dụngchính thân cây ngô để che phủ cho đấtsau mỗi vụ gieo trồng như đã từng ứngdụngrất thành công ở vùng canhtácngô ở huyện Văn Chấn (Yên Bái). Bên cạnh đó, một số biện pháp như làm ruộng bậc thang, tiểu bậc thang tuy khó áp dụnghơn do cần sự đầu tư lớn, nhưng các địa phương cũng cần có cơ chế để thực hiện từng bước nhằm bảo vệ tài nguyên đất, đảm bảo sự phát triển bềnvữngcho sản xuất nông lâm nghiệp khu vực miền núi./.








