Ứng dụng công nghệ sinh học trong y học
Kháng thể có hai đặc tính: thứ nhất là tính đặc hiệu, nghĩa là mỗi loại kháng thể chỉ săn lùng và tiêu diệt một loại kháng nguyên; thứ hai là một số kháng thể có khả năng miễn dịch suốt đời, ví dụ ai đã bị bệnh sởi, đậu mùa, rubella… thì những lần sau, các tác nhân gây bệnh này xâm nhập vào cơ thể là bị ngay đội quân kháng thể có sẵn tiêu diệt, nên người đó sẽ không mắc lại các bệnh này nữa. Như vậy, kháng thể giống như những chiến sĩ được huấn luyện để đưa ra chiến trường diệt giặc; lực lượng quân đội gồm nhiều binh chủng, mỗi binh chủng phù hợp với một cách đánh và dù không còn giặc ngoại xâm, người chiến sĩ vẫn nắm chắc tay súng, canh giữ đất trời Tổ quốc, sẵn sàng đập tan lực lượng thù địch nào muốn xâm nhập.
Đặc tính thứ hai được ứng dụng để chế tạo vắc xin. Vắc xin là virus hay vi khuẩn được làm yếu đo (bất hoạt) hay làm chết, hoặc một phần của vi khuẩn có mang tính kháng nguyên. Khi đưa vắc xin vào cơ thể, giống như bị nhiễm bệnh, nhưng nhẹ, cơ thể sẽ tạo ra kháng thể chống lại kháng nguyên là virus hay vi khuẩn đưa vào, sau đó, trong cuộc sống nếu có gặp virus hay vi khuẩn đó thì đã có kháng thể đặc hiệu chống trả, sẽ không mắc bệnh, nếu mắc thì bệnh rất nhẹ.
Đặc tính thứ nhất được ứng dụng để điều trị bệnh hay chẩn đoán bệnh. Thí dụ: kháng thể kháng virus SARS để điều trị bệnh SARS; huyết thanh kháng bệnh bạch cầu. Hay test ELISA để chẩn đoán bằng cách phát hiện trong máu có kháng thể kháng HIV là người đó đã bị nhiễm HIV.
Để nói chuyện mới: kháng thể đơn dòng
Người ta đã tạo ra được kháng thể từ bên ngoài cơ thể người. Cách thông thường để tạo ra kháng thể là tiêm kháng nguyên vào các động vật thí nghiệm để cơ thể chúng tạo ra kháng thể, sau đó sẽ trích máu chúng để lọc lấy kháng thể hoặc lấy huyết thanh có kháng thể (gọi là huyết thanh miễn dịch). Cách này có hai nhược điểm là: huyết thanh miễn dịch có chứa các chất không mong muốn và số lượng kháng thể rất ít. Hiện nay, ngành công nghệ sinh học phát triển vượt bậc, đã giải quyết được hai nhược điểm trên: thứ nhất là trích ra tế bào đặc hiệu để tạo kháng thể chuyên biệt cho một mục đích điều trị, gọi là đơn dòng; thứ hai là kháng thể được tạo ra liên tiếp trong môi trường nuôi cấy, cho số lượng lớn.
Từ việc chỉ dùng kháng thể điều trị các bệnh do vi khuẩn, virus. Hiện nay kháng thể đơn dòng được ứng dụng điều trị các bệnh nan y, do các nguyên nhân khác nhau như bệnh miễn dịch, ung thư. Trong năm 2007 vừa qua, sản phẩm kháng thể đơn dòng HUMIRA đã được giải thưởng Galien. Đây là một kháng thể hoàn toàn từ người, được sử dụng điều trị các bệnh thấp khớp, vẩy nến, xơ cứng khớp, viêm dính đốt sống và bệnh Crohn; từ mức độ trung bình đến nặng. HUMIRA tác động như một kháng thể do cơ thể tạo ra, nó ức chế yếu tố TNS – alpha (là một protein khi sản xuất quá mức sẽ đóng vai trò trung tâm trong phản ứng viêm trong các bệnh tự miễn), do đó có tác dụng giảm các phản ứng viêm, ức chế sự tiến triển phá huỷ cấu trúc và cải thiện chức năng cho người bệnh.








