Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ sáu, 12/03/2010 18:11 (GMT+7)

Tưởng nhớ nhà toán học - kẻ sĩ Bùi Trọng Liễu

Ông sinh ngày 28/9/1934, năm Giáp Tuất, nếu tính theo “tuổi tây” thì nay mới 76, chưa phải là “đại lão”. Ông vội ra đi khiến tôi luyến tiếc bùi ngùi. Giá như ông sống lâu hơn ít nữa để còn góp thêm nhiều ý kiến tâm huyết xây dựng nền giáo dục và khoa học nước nhà!

GS Bùi Trọng Liễu xuất thân trong một gia đình trí thức, quê ở làng Nhuận Ốc, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Bố ông là cụ Bùi Văn Thiệp, một nhà “tân học”, từng học qua Trường Bưởi, rồi tốt nghiệp Trường Cao đẳng Pháp chính Hà Nội, ra làm quan đến chức Tuần phủ (quan đầu tỉnh) Thái Nguyên, rồi Tuần phủ Phúc Yên trước Cách mạng Tháng Tám.

Thuở nhỏ, bên cạnh việc học tiếng Pháp, cậu bé Liễu còn được học chữ Hán đến mức dần dà đọc hiểu bộ tiểu thuyết trường thiên Trung Hoa cổ điển Tam Quốc chí diễn nghĩa! Chính vì vậy, sau này, qua các bài viết của nhà trí thức “Tây học” Bùi Trọng Liễu ở Paris, ta thấy thấp thoáng đó đây những điển cố trong cổ văn, cổ sử Trung Quốc, Việt Nam .

Theo gia đình sang Pháp từ năm 1950, khi mới 15 tuổi, hơn 4 phần 5 cuộc đời sống nơi đất khách quê người, thế mà ông vẫn sành tiếng Việt, không chỉ trong lời ăn tiếng nói ngày thường, mà cả trong văn chương nghị luận, tranh biện hay trần thuật, hồi ký, tuỷ bút, tiểu phẩm. Chính vì vậy, ông mới có thể viết cả một cuốn sách dày dặn về Chuyện gia đình và ngoài đờiđược Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội ấn hành, với lời giới thiệu của GS, VS Nguyễn Văn Đạo, Giám đốc nhà trường.

Nhờ tư chất thông minh bẩm sinh và ý chí kiên trì học tập, ông đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ quốc gia về khoa học toán học năm 28 tuổi. Sau đó, ông được bổ nhiệm làm giáo sư Đại học Lille (1963-1969), rồi giáo sư Đại học René Descartes (Paris 5) từ năm 1969 cho đến khi về hưu. Ông là một trong số rất ít người Việt sớm được công nhận chức danh giáo sư đại học ngành toán ở Pháp nói riêng, cũng như ở phương Tây nói chung.

Năm ông được bổ nhiệm làm giáo sư thực thụ giảng đài (professeur titulaire de chaire) Đại học Paris 5 thuộc hệ thống Sorbonne thì những thủ tục long trọng vẫn còn thịnh hành ở đấy. Chẳng hạn, khi một vị giáo sư thực thụ như ông đến đọc bài giảng ở một giảng đường bậc thang, thì các phó giáo sư, trợ lý đều phải có mặt tại đấy. Một appariteur (người trực cửa) đi trước thông báo cho đám sinh viên biết để họ nhất tề đứng dậy chào thầy, và khi bài giảng vừa kết thúc thì sinh viên đồng loạt vỗ tay tán thưởng hồi lâu... Những thủ tục như thế ngày nay không còn thấy nữa.

Để hiểu tấm lòng hướng vể đất nước, ta có thể đọc một đoạn hồi ký của GS Bùi Trọng Liễu viết về GS Tạ Quang Bửu:

“Vào khoảng năm đầu thập niên 1960, cái thời xa xăm ấy, lúc mà tâm trí đông đảo bà con Việt kiều hầu như còn dồn cả vào tình hình chính trị miền Nam, và chỉ lẻ tẻ vài cá nhân tự nguyện gửi sách báo, dụng cụ khoa học về một vài cơ sở ở miền bắc, bỗng một bữa tôi nhận được một cuốn từ điển khoa học in trong nước do anh Tạ Quang Bửu gửi tặng. Sự việc thật đơn giản này gợi cho tôi câu hỏi: Đây là đường lối “chiêu hiền đãi sĩ” của cách mạng Việt Nam mà anh là một trong những người góp phần vạch ra và thực hiện, hay là một dấu hiệu trong nước không từ chối sự đóng góp “tri thức” của kiều bào nước ngoài? Chắc là cả hai. Quan hệ giữa tôi và anh bắt đầu từ ngày đó... Rồi chiến tranh lan rộng ra miền bắc...

Mùa xuân 1969, điều tôi mong mỏi chờ đợi đã đến. Anh T., vị tham tán văn hoá đầu tiên tại Cơ quan Tổng Đaị diện nước ta tại Pháp tới Paris , mang theo lời gợi ý của anh Bửu mời tôi về nước làm việc một tháng, thí điểm cho việc Việt kiều về công tác ngắn hạn (nhưng hè 1970, tôi mới sắp xếp về nước được). Gặp anh, tôi cảm thấy mình cùng trên một “làn sóng” với anh: “Thể xác không cần liên tục tại chỗ - anh nói - vẫn có thể đóng góp được. Một tập thể những Việt kiều có chuyên môn cao, có nghề nghiệp vững chắc, có địa vị xã hội ổn định, là một cửa sổ của ta mở sang phía các nước phương Tây...”.

Nhà trí thức Việt kiều tiêu biểu ấy đã hướng về đất nước do “sức hút” của bậc “đại sĩ phu hiện đại” Tạ Quang Bửu.

Trong những năm giữ chức Tổng Biên tập tạp chí Tổ Quốc, rồi phụ trách báo Nhân Dân Cuối Tuần, mỗi khi nhận được bản thảo các bài báo của GS Bùi Trọng Liễu từ Paris gửi về toà soạn tại Hà Nội, tôi luôn trân trọng đưa in ngay.

Năm 1998, sau khi kết thúc Gặp gỡ Blois về vật lý thiên văn ở miền trung nước Pháp, trở về Paris, tôi liền ghé thăm GS Bùi Trọng Liễu, và được ông mời dự bữa cơm chiều thân mật tại nhà riêng, cùng GS Nguyễn Đình Trí, lúc bấy giờ là Chủ tịch Hội Toán học Việt Nam. Nhờ vậy, tôi mới biết cả nhà GS Liễu đều làm khoa học. Vợ ông là bà Colette, người Pháp, đỗ tiến sĩ quốc gia về toán học, phó giáo sư Đại học Paris 4. Con trai đầu là Bùi Khảo Mạc, tiến sĩ tin học năm 24 tuổi, giáo sư Đại học Compiègne năm 30 tuổi. Con trai thứ hai là Bùi A Lanh, đỗ tiến sĩ tin học năm 25 tuổi, phó giáo sư Đại học Picardie ( Amiens ) năm 26 tuổi. Cả hai anh Khảo Mạc và A Lanh đều nói được tiếng Việt và đã nhiều lần về Việt Nam giảng dạy hay hợp tác nghiên cứu khoa học. Trong bữa cơm chiều hôm ấy, tôi còn rất ngạc nhiên khi thấy bà Colette nấu các món ăn khá hợp khẩu vị chúng tôi, những người khách vừa từ Hà Nội sang.

Cuối cùng, cũng cần nói thêm, GS Bùi Trọng Liễu không phải là người chỉ... “chuyên góp ý kiến, gửi kiến nghị”! Ngay từ năm 1988, khi công cuộc Đổi Mới vừa bắt đầu, ông đã đứng ra sáng lập Trường Đại học Thăng Long tại Hà Nội, trường đại học dân lập đầu tiên ở nước ta, không xin tài trợ của Nhà nước, về giảng dạy và quản lý theo quan niệm mới, phù hợp với yêu cầu bức thiết của xã hội và tình hình quốc tế đang nhanh chóng đổi thay. Trường đã tồn tại hơn hai thập niên, do GS Hoàng Xuân Sính làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị, GS Huỳnh Mùi làm Hiệu trưởng. Trong những ngày đầu, khi lửa mới nhen, vợ chồng GS Liễu phải dành một phần tiền lương của mình ở Pháp để gửi về nước, giúp trường trang trải các chi phí...

Xem Thêm

Tin mới

Hương Xuân và tiếng gọi cội nguồn
Giữa nhịp chuyển mình của đất nước và những đổi thay sâu rộng của đời sống xã hội, trong lòng tôi, một người con xa quê khi mùa xuân về lại dấy lên một khoảng lặng rất riêng. Đó là lúc ký ức về làng quê, về nguồn cội trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết, như một điểm tựa tinh thần để tự soi chiếu lại mình trước thời vận mới của dân tộc.
Cần Thơ: phát huy vai trò tập hợp trí thức chung tay xây dựng nông thôn mới, lan tỏa “Xuân gắn kết - Tết yêu thương”
Sáng 11/02, tại Ấp Hòa Thành, xã An Lạc Thôn, TP. Cần Thơ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố Cần Thơ chủ trì phối hợp cùng UBND xã An Lạc Thôn, Hội Xây dựng TP. Cần Thơ và Nhóm VK xây cầu nông thôn tổ chức Lễ Khánh thành cầu Ngã Tư Trên (VK284) gắn với Chương trình an sinh xã hội “Xuân gắn kết – Tết yêu thương”.
An Giang: Họp mặt trí thức, văn nghệ sĩ và người làm báo Xuân Bính Ngọ 2026
Ngày 11/02/2026, tại phường Rạch Giá, Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy An Giang phối hợp với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh, Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh tổ chức Họp mặt đại biểu trí thức, văn nghệ sĩ, người làm báo tiêu biểu nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ 2026.
Lào Cai: Khai mạc Hội báo Xuân và các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026
Sáng ngày 12/2, tại Bảo tàng tỉnh, Ban Tổ chức những ngày lễ lớn tỉnh Lào Cai long trọng tổ chức Khai mạc Hội báo Xuân cùng các hoạt động trưng bày, triển lãm mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ năm 2026. Đây là hoạt động văn hóa thường niên đầy ý nghĩa, thể hiện niềm tự hào về những thành tựu đổi mới của Đảng bộ và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, khơi dậy khát vọng phát triển quê hương đất nước.
Gia Lai: Ông Cao Văn Bình được bầu giữ chức Chủ tịch Liên hiệp Hội tỉnh nhiệm kỳ 2026-2031
Trong hai ngày 5-6/2, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh Gia Lai, Đại hội đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai lần thứ I, nhiệm kỳ 2026-2031 đã được tổ chức trọng thể với sự tham dự của TSKH Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cùng lãnh đạo tỉnh Gia Lai, đại diện các sở, ban, ngành, đoàn thể của tỉnh và 130 đại biểu chính thức.
Báo chí và sứ mệnh lan toả, sáng tạo văn hoá
Trong tiến trình đổi mới toàn diện và hội nhập quốc tế sâu rộng, chấn hưng văn hóa dân tộc đã trở thành một nhiệm vụ chiến lược, được Đảng và Nhà nước xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho phát triển bền vững đất nước.
Phú Thọ: Lan toả phong trào sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những năm gần đây, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tại Phú Thọ, Cuộc thi Sáng tạo thanh thiếu niên, nhi đồng và Hội thi Sáng tạo kỹ thuật tỉnh năm 2025 đã trở thành “chất xúc tác” góp phần lan tỏa phong trào sáng tạo trong xã hội.