Trên hình vẽ 1 trình bày sơ đồ nguyên lý của tuabin khí với buồng đốt quay. Rotor với các cánh công tác của máy nén 1 được làm thành như một khối thống nhất với tuabin phản lực, bao gồm phần lồi lên trung tâm 2 và vòi phun 3. Trong thể tích của tuabin bố trí buồng đốt 4, còn trong thân của nó - tuyến xỉ ra 5. Ống dẫn nhiên liệu 6, trên đó gắn các cánh hướng của máy nén 1, đi qua họng của tuabin vào buồng đốt 4. Có cả buồng gom xỉ 7 bao quanh đầu ra của tuyến dẫn xỉ ra 5. Tuabin tựa trên các ổ trục 8, các ổ trục này có thể loại từ tính, làm mát bằng hơi hoặc khí (không khí). Thiết bị hoạt động như sau: không khí được nén bằng một máy nén 1 và được cấp vào buồng đốt 4. Nhiên liệu theo ống dẫn nhiên liệu cũng được đưa vào đó, những hạt nhiên liệu khi tương tác với các dòng sản phẩm cháy nung nóng quay vòng quanh sẽ bốc cháy và cháy kiệt. trong quá trình đó các giọt xỉ bị văng lên các thành của tuabin khỏi các va đập của những hạt. Tuyến dẫn xỉ 5 có đoạn khuỷu, nhờ đó xỉ lỏng tạo ra ngăn cản các sản phẩm cháy từ buồng đốt đi xuyên sang hệ thống thải xỉ. Xỉ đi qua bề mặt ngoài của tuabin đang quay, do các lực ly tâm bị văng ra và ở dạng các giọt gom lại trên các thành buồng 7. Phần lồi lên 2 gạt các sản phẩm cháy ra phía biên của buồng đốt vào vùng tác động lớn nhất của các lực ly tâm. Khí công tác được làm sạch xỉ, ra khỏi các vòi phun 3 làm quay tuabin và máy nén 1.
Có thể ước định những giai đoạn cháy sau đây của nhiên liệu trong tuabin khí buồng đốt quay:
1. Nhiên liệu cấp vào được các sản phẩm cháy sấy nóng nhanh (các sản phẩm cháy này chứa hơi nước) trong vùng trung tâm nhiệt độ cao của buồng đốt với sự diễn biến của các quá trình nhiệt phân và khí hóa.
2. Các hạt xỉ chứa cacbon chưa cháy hết, dưới tác dụng của các lực ly tâm đi vào dòng không khí, ở đó cacbon cháy nốt, trong đó nhiệt lượng được chuyển vào trung tâm của buồng bằng bức xạ (kể cả từ lớp xỉ trên các thành của buồng) và bằng việc tải đi nhờ đối lưu của các phần từ nhẹ nhất và “nóng” nhất.
3. Thành phần khí nén đến gần mức cân bằng về hóa học nhờ tăng cường trộn theo mức độ chuyển động đến các vòi phun tuabin, và kể cả trong thời gian và sau khi ra khỏi các vòi phun.
Đúng ra trong trường hợp này cần sử dụng một buồng đốt kéo ra ngoài (buồng khí hóa nhiên liệu rắn) với các tính chất đặc thù sau đây:
1. Nhiệt độ cao, cấu trúc của tuabin khí buồng đốt quay cho phép nó vận hành với nhiệt độ khí tăng cao cần thiết cho xỉ lỏng trong mức độ sự làm mát thân máy và các vòi phun phản lực của tuabin không gây những sự phức tạp như làm mát các profin mỏng được sử dụng trong các tuabin hướng trục truyền thống. Hơi và không khí từ hệ thống làm mát có thể trút vào bên trong tuabin khí buồng đốt quay. Bề mặt bên trong của buồng đốt và các vòi phun có thể được phủ lớp gốm.
2. Hệ thống lồng ghép để làm sạch xỉ cho khí công tác. Sự hiện hữu của lực ly tâm đáng kể tác động lên khí và các hạt lơ lửng trong khí sẽ đảm bảo mức độ cao cho sự tách xỉ.
3. Ngăn ngừa sự bào mòn các thành buồng đốt, trên đó dưới tác dụng của các lực ly tâm tạo ra lớp xỉ ổn định, bảo vệ một cách tin cậy bề mặt của các thành đó khỏi những va đập của các hạt.
4. Lực cản thủy động lực bằng không, điều đó có nghĩa là không có chi phí cho việc quạt (thổi gió). Những tính toán trên các mô hình toán học đã cho thấy rằng để đạt điều đó thì hiệu suất của tuabin ít nhất phải là 30 – 40% (với hiệu suất của máy nén 85%), điều đó hoàn toàn đạt được: sự biến đổi độ giảm nhiệt thành tốc độ dòng đối với thiết bị vòi phun hiện đại khá cao - hệ số tốc độ vòi phun là 0,95 – 0,98%. Nhược điểm của tuabin với các vòi phun phản lực là tổn thất năng lượng đáng kể với tốc độ đầu ra trong trường hợp này có thể tránh được bằng cách lựa chọn độ sụt áp ở các vòi phun và tốc độc quay của nó tương ứng với hiệu suất tối đa khả dĩ theo các điều kiện độ bền của các vật liệu và độ làm sạch xỉ cho khí. Với tần số quay thấp hơn, tương đối tối ưu với vận tốc khí cho trước của khí thoát ra từ các vòi phun của tuabin thì khí rời khỏi các vòi phun của tuabin sẽ có vận tốc đủ cao để có thể sử dụng cho việc tách thêm xỉ, nâng cao áp suất khí ở đầu ra của tuabin khí buồng đốt quay trong ống khuếch tán và kể cả để giảm tải trên ổ trục 8 khi thiết bị hoạt động bằng cách bố trí các vòi phun dưới một góc nào đó so với đường nằm ngang nhằm bù một phần trọng lượng của roto bằng các lực phản lực (bổ sung vào ứng lực dọc trục do máy nén 1 tạo ra) tương tự như các động cơ phản lực.
5. Cường độ cháy tăng cao và nhiên liệu cháy kiệt.
Buồng đốt bố trí trong thể tích của tuabin khí buồng đốt quay cho phép tăng cường quá trình trao đổi nhiệt và trao đổi khối lượng ra trong đó nhờ các cuộn xoáy rối loạn được hình thành trong sự tương tác của các dòng sản phẩm cháy, nhiên liệu và không khí có những vận tốc khác nhau (trước hết là những vận tốc quay). Điều đó đảm bảo sự bốc cháy tin cậy và độ cháy kiệt nhiên liệu cao hơn, và kể cả tải nhiệt của thể tích buồng đốt cao, và cao hơn đáng kể so với trong chính các buồng đốt với ứng lực nhiệt cao nhất kiểu cyclon, bởi vì vận tốc của các hạt nhiên liệu được gió thổi vào ở đây cao hơn đáng kể (các hạt ban đầu có vận tốc biên bằng không và dần dần lấy đà tăng tốc dưới ảnh hưởng của dòng khí) và với chi phí năng lượng nhỏ hơn bởi vì năng lượng cơ khí chi phí cho sự nới lỏng không khí và nhiên liệu do tuabin tái sinh. Vì vậy than có thể được cấp vào bằng các bơm ở dạng huyền phù than - nước và việc khí hóa nó có thể thực hiện với hệ số không khí thừa tối thiểu. Ngoài ra sự tăng cường trộn nhiên liệu vào không khí đảm bỏa sự thoát ra nhanh của chất bốc trong các hợp chất từ than và tạo điều kiện thuần nhất của khí hóa (sự cháy). Bởi vì tỷ trọng của xỉ cao hơn tỷ trọng của cacbon và nhiên liệu, các hạt nhiên liệu chưa cháy kiệt sẽ “bơi” trên bề mặt xỉ tới khi cháy triệt để cacbon: việc đưa nhiệt vào được thực hiện từ dưới lên bằng chất làm đầy, còn từ trên xuống các hạt được thổi mạnh bằng không khí tươi do máy nén cấp. Xỉ trên các thành tuabin thực hiện vai trò bộ phân tích và chuyển nhiệt lượng cần thiết cho sự diễn ra các phản ứng khí hóa các hạt cốc chưa cháy kiệt đang “bơi” trên bề mặt của nó. Do đó tuabin khí buồng đốt quay ở mức độ nào đó kết hợp các tính chất của các buồng đốt kiểu ngọn đuốc, kiểu cyclon, bọc cách nhiệt và các buồng đốt với xỉ nóng chảy.
6. Tính nén chặt: xét thấy rằng các buồng đốt kiểu cyclon trong số các buồng đốt than hiện đại có ứng suất nhiệt cực đại đạt tới 2 - 7 MW/m3 với vận tốc không khí đưa vào 60 - 120 m/s có thể ước định rằng thể tích buồng đốt của tuabin khí buồng đốt quay sẽ là đối thiểu.
7. Độc tố trong khói thấp hơn nhờ sự thuần nhất của hỗn hợp nhiên liệu - không khí và sử dụng phương pháp đốt nhiên liệu phân tầng bằng cách lấy khí nhiên liệu thu được trong tuabin khí buồng đốt quay để đốt trong các buồng đốt của tuabin khí hoặc các buồng đốt của lò hơi.
8. Trường nhiệt độ đồng đều hơn ở đầu ra nhờ tăng cường trộn khí thoát ra từ các vòi phun của tuabin.
Khi tối ưu hóa cấu trúc của tuabin khí buồng đốt quay (chọn hình dạng và phương thức đưa nhiên liệu vào, tổ chức quá trình cháy, dẫn khí tới các vòi phun của tuabin….) có thể áp dụng các kinh nghiệm nghiên cứu triển khai và vận hành các buồng đốt kiểu cyclon (cuộn xoáy) với việc thải xỉ lỏng, các máy ly tâm và các tuabin với các vòi phun phản lực như những vật tương tự sắp tới của tuabin khí buồng đốt quay. Để điều chỉnh sự họat động của tuabin khí buồng đốt quay có thể ứng dụng hiện tượng vận tốc khí thoát ra từ các vòi phun không tăng khi các tỷ số áp suất khí ở đầu vào/ đầu ra của các vòi phun cao hơn tới hạn. Việc điều chỉnh công suất của các thiết bị phát điện có thể thực hiện bằng cách thay đổi số lượng của tuabin khí buồng đốt quay nhỏ vận hành song song, khởi động thiết bị - đưa không khí nén vào đầu vào, sấy nóng - bằng cách đốt nhiên liệu lỏng. Khi làm nguội các sản phẩm cháy trong các lò hơi có thể thu được các tinh quặng tiêu chuẩn của các hợp chất kim loại: khi đốt nhiên liệu – V 2O 5(oxit vanadi) và sunfat natri, khi khí hóa – sunfat natri. Trong bảng 1 trình bày một số thông số của tuabin khí phản lực.
Những đặc điểm của tuabin khí buồng đốt quay cho phép đưa ra kết luận về triển vọng đốt và khí hóa than trên các thiết bị năng lượng với tuabin khí; đốt (khí hóa) các dạng nhiên liệu nhiệt trị thấp và không truyền thống với hàm lượng ẩm cao (gỗ, các phế liệu sinh họat và tro, và kể cả khí bụi lò cao).