Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ ba, 13/04/2010 07:00 (GMT+7)

“Trói tay” thần chết

A Lưới là một huyện miền núi với hơn 75% dân cư là bà con thuộc các dân tộc thiểu số ít người như PaKôh, Vân Kiều, Cơ Tu, Tà Ôi quần tụ trên địa hình cao nhất và được mệnh danh là "đỉnh trời" của tỉnh Thừa Thiên Huế. "Vùng đất chết", "rốn da cam" hay "tử địa dioxin"... là những cụm từ mà người ta vẫn hay nhắc đến khi nghĩ về nơi này.

Hậu họa dioxin dai dẳng...

Với 432.812 lít chất độc da cam mà mảnh đất giữa đại ngàn này đã hứng chịu khiến môi trường nơi đây bị hủy diệt nặng nề. Hai tổ chức UB 10-80 và Hatfield Consultants (Canada) sau khi tiến hành nghiên cứu từ năm 1994 -2000, đã cảnh báo rằng: "Tại khu vực trung tâm sân bay A So, dư lượng dioxin không chỉ tồn tại trên người, trong đất đai mà tồn tại cả trong cả gà, vịt, cá... và cao gấp nhiều lần mức cho phép".

Hiệu quả từ công trình hàng rào bồ kết của GS. Phùng Tửu Bôi đã thu hút rất nhiều sự quan tâm ủng hộ và đóng góp của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

Chính những cựu phi công Mỹ (trực tiếp lái máy bay ném chất độc xuống ALưới) khi trở lại chiến trường xưa lại khuyên người dân: Hãy tránh xa khu vực này. Các nhà khoa học thì khuyến cáo: không nên ăn các loại thực phẩm như gà, vịt, cá, hoa quả... trong khu vực toànxã... Chính quyền nơi đây phải dựng lên những tấm bảng cảnh báo lớn quanh khu vực sân bay, các ngã tư, ghi rõ dòng chữ: "Cấm ăn nội tạng gà, vịt, cá... Cấm uống nước hố bom, nước suối trong khu vựcnày".

Nhưng như lời bà Kăn Sinh (ở bản Chai, Đông Sơn), thì: "Đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi chúng tôi cái đói, cái nghèo cứ đeo đuổi mãi nên dù ai cũng biết nguy hiểm đó, nhưng phải... liều thôi". Cuộc sống con người nơi "đỉnh trời" A Lưới mà tâm điểm là hàng ngàn hộ dân xã Đông Sơn không còn cách khác, vẫn ăn, vẫn uống nước và thực phẩm trên đất còn ngấm đioxin.

Nhiều người gọi vùng đất này có mùa trồng trọt ngắn nhất Việt Nam . Bởi cây trồng lên vài ngày sau lại chết. Hết bắp ngô, củ sắn, củ khoai... bà con đành mò mẫm mưu sinh vào khu vực có chất da cam kiếm con tôm, con cá từ các hố bom và kiếm tìm phế liệu chiến tranh.

Có một người đã đến công tác tại Đông Sơn nhiều lần. Chứng kiến biết bao nỗi đau thương mất mát bởi chất độc da cam/đioxin gây ra, thấy cảnh người dân còn phải sống chung với "tử thần" rình rập. "Tôi cứ trăn trở mãi và nghĩ, phải làm một cách nào đó để giúp bà con..." - GS. Phùng Tửu Bôi, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn tự nhiên và Phát triển cộng đồng thuộc (thuộc Hội Khoa học kỹ thuật lâm nghiệp Việt Nam ) nói với ký ức ám ảnh.

Và ông bắt đầu kể lại về hành trình đưa hàng rào bồ kết cách ly người dân với chất độc dioxin.

“Trói tay” thần chết

Lần đầu ông đến A Lưới vào năm 1975 và dù là một trong những nhà nghiên cứu về tổn hại sinh thái do chiến tranh hàng đầu ở Việt Nam . Nhưng để có biện pháp gì để hạn chế tác hại của "ma trận" đioxin giữa "tử địa" vẫn là vấn đề không chỉ khiến GS. Phùng Tửu Bôi đau đầu mà là vấn đề nan giải của hầu hết các nhà khoa học.

Phải mất 20 năm sau, khi trở thành Giám đốc Trung tâm Hỗ trợ bảo tồn tự nhiên và Phát triển cộng đồng, GS. Bôi mới có điều kiện đề quay lại tìm cách tách người dân với "tử địa". Năm 2005, ngay sau khi tham dự Diễn đàn xã hội thế giới lần thứ 5 ở Brazil trở về, GS. Bôi và các cộng sự của Trung tâm Hỗ trợ bảo tồn tự nhiên và Phát triển cộng đồng bắt tay tìm hiểu loại cây thích hợp để tạo hàng rào vừa có tác dụng làm xanh môi trường, vừa ngăn cản người dân tiếp xúc với vùng đất nguy hiểm.

Trước đó, cả nhóm nghiên cứu đã từng tính đến chuyện khoanh vùng bằng hàng rào dây thép gai nhưng lại sợ người dân túng quẫn lại tháo hàng rào đi bán. Xây hệ thống tường bê tông cách ly dioxin như ở khu vực sân bay Biên Hòa và Đà Nẵng thì chi phí quá tốn kém. Sau hàng tháng trời mày mò nghiên cứu và tấm lòng trăn trở với bà con mấy chục năm khiến GS. Bôi nảy ra một biện pháp đơn giản: làm hàng rào bằng cây bồ kết, vừa rẻ, vừa dễ trồng. Nó sẽ hạn chế sự phát tán dioxin qua tiếp xúc và thức ăn bằng cách cản trở người dân vào khu vực nguy hiểm.

Bồ kết có nhiều gai lớn và mọc rất nhanh, không làm củi được vì đốt rất khói. GS. Bôi đã từng bắt gặp những hàng rào kiểu như thế này ở các trang trại cà phê ở Tây Nguyên. Chỉ mất khoảng 30.000 đồng mỗi mét vuông, lại cải thiện được môi trường.

Ý tưởng của ông nhanh chóng nhận được sự ủng hộ nhưng vẫn không ít người ngờ vực bởi vùng đất này loài cây nào cũng chết yểu. Ông về lại Hà Nội và bắt đầu lên kế hoạch cho dự án. Khi bắt đầu triển khai, GS. Bôi và nhóm nghiên cứu lại phải đi thuyết phục các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới và được tài trợ hai vạn cây bồ kết gai và cây keo gai làm hàng rào phụ bao quanh 1ha đất nhiễm dioxin.

Đầu năm 2005, hai vạn cây bồ kết giống đặt hàng của trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội lên đường vào A Lưới. Trong hành trình vật lộn, cô lập "tử thần", GS. Bôi gần như gác lại hoàn toàn công việc của một Giáo sư - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn tự nhiên và Phát triển cộng đồng. Giữa hoang vu đại ngàn Trường Sơn, vì công trình của mình, có khi GS. Bôi phải "nằm vùng" cả tháng trời để khảo sát địa hình, hướng dẫn bà con cách chăm sóc cây, cách gieo hạt. Nhưng công trình của GS. Bôi đang dang dở thì trận lũ cuối năm 2005 cuốn trôi tất cả...

Không nản lòng, GS. Bôi nhờ bạn bè trong giới khoa học kêu gọi hỗ trợcủa cộng đồng quốc tế. Năm 2007, thông qua tổ chức War Legacies Project (Hoa Kỳ) và một số tổ chức khác, GS. Bôi được hỗ trợ trên hai vạn cây bồ kết gai và keo gai. Lần này, "tôi nhân giống ngay tạiA Lưới để không tốn tiền vận chuyển và chủ động trong việc chọn ngày trồng. Để cải tạo vùng đất khô cằn, tôi mua lại phân trâu bò của dân để bón cho đất" - GS.  Bôi kể lại.

Đến nay, cây bồ kết đã cao đến hơn 1,5m, bề rộng hàng cây khoảng 2 - 3m, tổng diện tích cây trồng khoảng 8.000 - 12.000m2 tạo nên một hàng rào bao quanh với đường kính 1.000m. "Hai, ba năm nữa hàng rào xanh sẽ cao 3m. Khi được 5 năm, bồ kết rụng hạt. Hạt lại nảy mầm làm cho hàng rào ngày càng dày thêm, tạo một thành lũy vững chắc" - ông Bôi phấn khởi. "Tử địa" dioxin hoàn toàn bị cô lập. "Quan trọng nhất là người dân khó có thể vào được khu vực sân bay A So nhờ hàng rào bồ kết. Cần có thêm nhiều hơn những hàng rào rẻ vốn đầu tư mà có hiệu quả đắt như vậy ở những khu vực nhiễm dioxin khác" - ông Phơm, Bí thư Đảng ủy xã nói như khoe.

Người hùng... trồng bồ kết

Đề tài khoa học "Ngăn chất độc dioxin bằng hàng rào bồ kết" đã đoạt giải trong cuộc thi Ngày sáng tạo Việt Nam năm 2005, do Ngân hàng Thế giới tổ chức. Nhưng với GS. Bôi, giải thưởng lớn nhất là cuộc sống yên bình của đồng bào và biệt danh "người hùng trói tay thần chết". Hình ảnh GS. Bôi trong lòng đồng bào A Lưới không phải là một giáo sư đầu ngành mà chỉ đơn giản là một "cán bộ hay giúp đỡ bà con".

Hết lòng trong việc cách ly cuộc sống người dân với tử địa đioxin, GS. Bôi còn nỗ lực kêu gọi các nhà hảo tâm giúp đỡ đồng bào A Lưới phát triển kinh tế. Những món quà tuy không nhiều nhưng ý nghĩa từ các tổ chức trong nước và quốc tế góp phần nâng cao đời sống và ấm lòng người dân ở nơi chịu quá nhiều mất mát đau thương. Đó mới là hàng rào lớn nhất ngăn người dân liều mình vào các vùng đất chết.

Ngoài hàng rào ngăn độc, GS. Bôi còn lựa chọn giống bồ kết tốt về nhân giống và chuyển giao cho bà con trồng quanh A So để phủ xanh rừng, xanh vườn nhà, vườn đồi vốn cằn cỗi bao năm nay. Qua nghiên cứu, chất đất vùng này còn phù hợp phát triển cây bồ kết, mây, keo tai tượng và cả cây dó trầm. GS. Bôi tiếp tục đưa ra sáng kiến trồng cây dó trầm ngay trong vườn đồi sẽ mang lại nguồn thu nhập đáng kể.

Như một hệ lụy, rất nhiều trẻ em chào đời ở "tử địa" này gặp phải biết bao di chứng, "đẻ nhiều nhưng nuôi được ít" dần trở thành "chuyện bình thường ở huyện". Ông Nguyễn Văn Phơm, Bí thư Đảng ủy xã Đông Sơn ái ngại nói: "Dioxin là nguyên nhân bệnh tật cho gần 100 hộ trong số 240 gia đình trong khu vực A So...".

Riêng bồ kết, không chỉ quả được dùng làm nước gội đầu, mà còn để làm dược liệu, gai bồ kết dùng làm thuốc chữa mụn nhọt. Ý tưởng của GS. Phùng Tửu Bôi cũng nằm trong dự án của tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2006 - 2010 nhằm phục hồi các hệ sinh thái vùng A Lưới, phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân ở vùng bị ảnh hưởng của chất độc hóa học trong chiến tranh.

Xem Thêm

GS.TSKH Nguyễn Đức Cương: Khoa học là một hành trình dài và không phải lúc nào cũng có kết quả ngay
Sinh năm 1945 tại Huế, ông là nhà khoa học hàng đầu về hàng không - vũ trụ của Việt Nam, đã có hơn nửa thế kỷ cống hiến cho ngành khoa học kỹ thuật hàng không vũ trụ. Không chỉ là người đặt nền móng cho các sản phẩm bay tiết kiệm chi phí cho Việt Nam, ông còn là người thầy tâm huyết, truyền cảm hứng và kiến thức cho nhiều thế hệ, góp phần đưa ngành hàng không Việt Nam đạt được những bước tiến mới.

Tin mới

Bí thư Châu Văn Minh dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ và tặng quà gia đình chính sách tại Quảng Trị
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), ngày 13/7, GS.VS Châu Văn Minh, Bí thư Đảng ủy Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã dẫn đầu Đoàn công tác đến dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng trị và thăm hỏi, tặng quà các gia đình chính sách, người có công với cách mạng có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn.
Tạp chí Việt Nam Hội nhập đạt chuẩn Tạp chí khoa học năm 2026
Vừa qua, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Quyết định số 2244/QĐ-BKHCN và Quyết định 2823/QĐ-BKHCN để công bố danh mục tạp chí đạt tiêu chuẩn khoa học Việt Nam năm 2026. Sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong quá trình chuẩn hóa hệ thống xuất bản học thuật nước nhà, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nghiên cứu, phản biện và các chuẩn mực công bố khoa học hiện đại.
Viện Chính sách, Pháp luật và Quản lý khẳng định vị thế là một tổ chức khoa học uy tín
Trong bối cảnh đất nước đang đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện thể chế phát triển và thúc đẩy đổi mới sáng tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học về chính sách, pháp luật và khoa học quản lý ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp luận cứ khoa học phục vụ quá trình hoạch định chủ trương, chính sách, cũng như hoàn thiện hệ thống pháp luật.
Đắk Lắk: Mở ra không gian phát triển, nhiều tiềm năng cho đội ngũ trí thức khoa học
Việc hợp nhất tỉnh Đắk Lắk và Phú Yên đã mở ra không gian phát triển mới với nhiều tiềm năng về kinh tế, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực quan trọng của tăng trưởng, phát huy vai trò đội ngũ trí thức KH&CN là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho sự phát triển nhanh, bền vững của tỉnh Đắk Lắk.
Nghị quyết 57/NQ-TW: Đột phá là đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt hơn
Mọi hệ thống số, cơ sở dữ liệu và nền tảng số phải được thiết kế theo yêu cầu an toàn, an ninh ngay từ đầu; coi đào tạo kỹ năng số, năng lực đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI là nhiệm vụ lâu dài. Khi những điều đó được thực hiện đồng bộ, Nghị quyết 57/NQ-TW sẽ tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam bứt phá.
Thanh Hoá: Hội nghị sơ kết 6 tháng đầu năm 2026
Ngày 10/7, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Thanh Hóa (Liên hiệp hội) tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành mở rộng lần thứ VII, khoá VII, nhiệm kỳ 2024 - 2029; sơ kết 6 tháng đầu năm, triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2026.
Lâm Đồng: Kết nối sức mạnh - Khơi thông nguồn lực phát triển năng lượng tái tạo
Chiều ngày 09/7, tại Đà Lạt, Hiệp hội Điện gió và Mặt trời tỉnh Lâm Đồng (Hội thành viên Liên hiệp Hội) tổ chức Hội nghị thường niên năm 2026 nhằm đánh giá kết quả hoạt động năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời đề ra phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm cho 6 tháng cuối năm.
Liên hiệp Hội tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Trị tăng cường trao đổi kinh nghiệm
Chiều ngày 09/7, Đoàn công tác Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật (LHH) tỉnh Quảng Trị do Tiến sĩ Trần Văn Tuân – Chủ tịch Liên hiệp Hội làm Trưởng đoàn đã có buổi thăm, làm việc và trao đổi kinh nghiệm tại LHH tỉnh Hà Tĩnh. Tiếp và làm việc với đoàn có Tiến sĩ Bùi Khắc Bằng – Chủ tịch LHH tỉnh Hà Tĩnh cùng đại diện các ban chuyên môn.
Đắk Lắk: Liên hiệp hội sơ kết công tác 6 tháng đầu năm
Chiều ngày 09/7, Liên hiệp hội tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) nhằm sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và triển khai phương hướng, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026; đồng thời cho ý kiến đối với các nội dung chuẩn bị Đại hội Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031.