Trí thức y - dược những ngày đầu toàn quốc kháng chiến
Trước giờ ra trận
Với các vụ nổ súng gây hấn, đánh chiếm Lạng Sơn, Hải Phòng (20 - 11 - 1946), thực dân Pháp phơi bày ngày càng trắng trợn dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Ngày 17 - 12 - 1946, ngay giữa Thủ đô Hà Nội, chúng gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún, bắn giết đồng bào ta ở phố Yên Ninh. Chúng gửi tối hậu thư đòi tước vũ khí tự vệ Thủ đô và cự tuyệt tiếp xúc với đại diện của Chính phủ ta.
Phán đoán cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khó tránh khỏi, Chính phủ đã chỉ thị cho Bộ Y tế phải chuẩn bị mọi mặt để đáp ứng những yêu cầu mới. Nhiệm vụ đặt ra lúc bấy giờ là mua thêm thuốc men, dụng cụ, bông băng để vừa sử dụng vừa có phần dự trữ, tổ chức nhiều lớp cấp tốc đào tạo nhân viên y tế, cứu thương trong thời gian ngắn, sẵn sàng sơ tán tài sản, trang thiết bị, dụng cụ y tế và cán bộ, nhân viên ra khỏi Hà Nội khi có lệnh.
Bằng nhiều cách khác nhau, các dược sĩ Vũ Công Thuyết và Hoàng Xuân Hòa cùng các đồng nghiệp đã thu nhập được hơn 6 tấn thuốc và kịp thời vận chuyển ra khỏi Hà Nội trước giờ nổ súng. Nghiêm chỉnh chấp hành mệnh lệnh của Chính phủ, các cơ quan Bộ Y tế, Nha Y tế Bắc Bộ, Viện Pasteur, Viện Bào chế Trung ương và các bệnh viện sơ tán tài sản, phương tiện, dụng cụ, hồ sơ ra ngoại thành Hà Nội và các huyện giáp ranh tỉnh Hà Đông (cũ) một cách lặng lẽ, nhưng liên tục và khẩn trương. Các dụng cụ thí nghiệm, kính hiển vi và các ống đựng giống vi khuẩn để sản xuất vacxin của Viện Pasteur Hà Nội, các phương tiện giảng dạy của trường Đại học Y - Dược Hà Nội được đóng vào sọt, bồ, hòm và chuyển ra khỏi thành phố bằng thuyền.
Đi theo tiếng gọi non sông
Đêm 19 - 12 - 1946, cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta chống thực dân xâm lược Pháp trên phạm vi cả nước bắt đầu. Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiếncủa Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 20 - 12 - 1946 là lời hịch cứu nước, kết tinh truyền thống anh hùng, bất khuất của cả dân tộc, thể hiện tinh thần triệt để cách mạng của Đảng, nói lên ý chí sắt đá đánh giặc cứu nước của nhân dân ta.
Trong những năm đầu thập niên 40 của thế kỷ trước, những người thầy thuốc Việt Nam đã từng tham gia cứu chữa nạn nhân các trận bom trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Sau ngày thực dân Pháp, được quân đội Anh giúp sức, nổ súng đánh chiếm Sài Gòn và mở rộng chiến tranh ra các tỉnh phía Nam, các đoàn thầy thuốc do Bác sĩ Hoàng Đình Cầu và Bác sĩ Nguyễn Thúc Tùng phụ trách đã tham gia Nam tiến, cứu chữa bộ đội và nhân dân bị thương ở ngoài mặt trận, góp phần cùng đồng bào miền Nam chiến đấu chống quân xâm lược. Những kinh nghiệm thu được trong các đợt hoạt động đó là hành trang đầu tiên của những người thầy thuốc trẻ tuổi Việt Nam yêu nước, thông minh và tài năng lên đường phục vụ kháng chiến.
Ngay đêm 19 - 12 - 1946, người thầy thuốc đầu tiên hy sinh tại Hà Nội là bác sĩ Nguyễn Văn Luyện. Ông bị quân Pháp bao vây tại nhà riêng ở phố Trần Hưng Đạo (nay là Đại sứ quán Cu Ba). Giặc gọi hàng, nhưng bác sĩ Luyện đã mắng lại chúng, rồi cùng với hai con trai là Giám và Minh (tự vệ thành phố) dùng súng chiến đấu và anh dũng hy sinh. Đây là trường hợp duy nhất tại Việt Nam , một gia đình có ba liệt sĩ hy sinh ngay trong ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp.
Trong việc cấp cứu chiến thương tại mặt trận Hà Nội đã hình thành ba tuyến. Ở mỗi tuyến này đều có các bác sĩ phụ trách, với sự tham gia của các sinh viên y khoa, y sĩ, y tá, nữ hộ lý và đội tải thương.
Tuyến nội thành có ba trạm cứu thương đặt tại nhà Bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết ở số 10 phố Hàng Bè, nhà Phú Lợi ở số 18 phố Hàng Bè và nhà Nam Long ở phố Hàng Buồm. Ở tuyến này có Bác sĩ Đoàn Văn Hiền, Bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết và các sinh viên Phạm Văn Vân và Đào Duy Châu.
Sau khi được điều trị sơ cứu, thương binh được đội nữ tải thương khu Lãng Bạc chuyển về tuyến sau là trạm phẫu thuật lưu động đặt tại Chèm, Vẽ do các sinh viên Trịnh Kim Ảnh, Đỗ Bá Hiển, Nguyễn Đức Nguyên cùng hai y tá Ninh và Triệu phụ trách.
Những trường hợp quá nặng được chuyển qua Yên Nhân, Đống Đồ lên bệnh viện Phúc Yên. Bác sĩ Đinh Văn Thắng phụ trách việc phẫu thuật tại tuyến này. Một trạm tuyến nữa được tổ chức tại bệnh xá Việt Trì do Bác sĩ Đỗ Xuân Hợp phụ trách. Trạm phẫu thuật tại cầu Phùng (Đan Phượng) hoạt động dưới sự điều hành của Bác sĩ Trần Hữu Tước.
Một trạm phẫu thuật đặt tại bệnh viện Bạch Mai do Bác sĩ Vũ Đình Tụng và sinh viên Vũ Đình Tuân phụ trách, sau đó rút xuống Văn Điển. Tại đây đã xẩy ra một sự kiện thật cảm động và đau lòng. Anh Vũ Chí Thành, con trai Bác sĩ Vũ Đình Tụng, tham gia chiến đấu bảo vệ Thủ đô. Ngay từ những ngày đầu, anh đã bị thương trên chiến lũy Hà Nội. Được chuyển về đây, mặc dù được tận tình cứu chữa, nhưng do vết thương quá nặng, anh đã hy sinh trước nỗi niềm xót thương vô hạn của người cha và người anh ruột của mình. Trong hoàn cảnh bộn bề công việc của những ngày đầu kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã biết tin, đích thân đánh máy, thêm dấu vào bức thư chia buồn, động viên Bác sĩ Vũ Đình Tụng.
Lực lượng chuyên môn của Trường Đại học Y - Dược Hà Nội và bệnh viện Phủ Doãn được tổ chức lại thành ba đơn vị:
Trạm phẫu thuật A do Bác sĩ Tôn Thất Tùng và Bác sĩ Phạm Hữu Trí phụ trách, triển khai tại Cự Đà, Chuông, Tre (Ứng Hòa, Hà Đông), có nhiệm vụ đón thương binh từ phía Tây Nam Hà Nội. Sau khi Bác sĩ Tôn Thất Tùng nhận nhiệm vụ mới, Bác sĩ Hoàng Đình Cầu phụ trách trạm phẫu thuật này.
Trạm phẫu thuật B do Bác sĩ Nguyễn Hữu phụ trách, đóng tại phía Tây Hà Nội. Trạm này đã làm việc rất căng thẳng, vất vả vì số thương binh chuyển về rất đông.
Một trạm phẫu thuật được đặt ngay tại Bệnh viện Phủ Doãn do Bác sĩ Phạm Bửu Tâm phụ trách, với nhiệm vụ ở lại nội thành để cứu chữa các thương binh chưa kịp rút ra ngoài.
Tiếp theo đó, để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến trường kỳ, một bệnh viện hậu phương của Trường Đại học Y - Dược Hà Nội và Bệnh viện Phủ Doãn được thành lập tại Vân Đình do Giáo sư Hồ Đắc Di và Bác sĩ Tôn Thất Tùng phụ trách. Đây là một cơ sở lớn, có nhiều trang thiết bị phục vụ mổ xẻ được mang theo từ Bệnh viện Phủ Doãn. Khi mặt trận lan rộng, các trạm phẫu thuật lưu động A và B đều rút về đây.
Các chiến sĩ áo trắng còn có mặt tại nhiều vị trí trọng điểm khác như Bác sĩ Ngô Như Hiền, Bác sĩ Lê Văn Hải và sinh viên Vũ Triệu An tại mặt trận Hải Dương, Bác sĩ Nguyễn Trinh Cơ và sinh viên Trần Văn Bảo tại mặt trận Nam Định, sinh viên Hoàng Tích Tộ tại mặt trận Vĩnh Yên, Bác sĩ Phạm Gia Triệu và sinh viên Đào Bá Khu tại mặt trận Hồng Quảng. Sinh viên Nguyễn Xuân Ty làm đội phó đội điều trị của Bộ Tổng chỉ huy.
Thời gian này, các chiến sĩ áo trắng Việt Nam có dịp trực tiếp tiến hành phân loại vết thương, sơ cứu ban đầu, phòng chống choáng, triển khai các ca phẫu thuật, theo dõi, chăm sóc các trường hợp nặng sau khi mổ và đã đúc rút được nhiều bài học kinh nghiệm quý báu, đặc biệt là trong việc xử lý các vết thương chiến tranh đã nhiễm trùng. Một kinh nghiệm chuyên môn của các chiến sĩ Tây Ban Nha (1936) về bó bột kín các vết thương gãy xương trong chiến tranh cũng được áp dụng có kết quả. Chiếc đinamô xe đạp trở thành nguồn sáng hữu hiệu trong các căn hầm cứu thương.
Trường Đại học Y - Dược kháng chiến
Cuối tháng 1 năm 1947, giữa lúc chiến sự đang còn diễn ra ác liệt trong nội thành Hà Nội, Bác sĩ Vũ Văn Cẩn đã về Vân Đình, họp với Giáo sư Hồ Đắc Di, Bác sĩ Tôn Thất Tùng và một số cán bộ quân y về nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới, đặc biệt là vấn đề cứu chữa thương binh. Cuộc họp Vân Đình đã đi tới một quyết định quan trọng là mở lại trường Đại học Y - Dược. Ngay từ tháng 2 năm đó, Trường Đại học Y - Dược đã hoạt động trở lại tại Vân Đình. Các lớp học được đặt tại đình chùa hoặc nhà dân. Các trạm cứu thương, các bệnh viện, các đơn vị quân y trở thành nơi tập trung và thực tập của sinh viên, một kiểu bệnh viện thực hành thời chiến.
Ngày 02 tháng 3 năm 1947, mặt trận Tây Nam Hà Nội bị vỡ. Quân Pháp tấn công đánh chiếm tỉnh lị Hà Đông, rồi nhảy dù xuống Vân Đình. Nhà trường Đại học Y - Dược và bệnh viện thực hành lúc này mang tên “ Đoàn mổ xẻ lưu động Việt Bắc” phải lui về cuối tỉnh Hà Đông tại Hòa Xá - Đốc Tín, rồi lại phải di chuyển gấp lên Tuyên Quang. Cuộc di chuyển đầu tiên với quy mô lớn này thật là gian nan, vất vả. Một số nhân viên, các trang thiết bị, dụng cụ và thương binh nặng di chuyển bằng thuyền. Còn phần lớn cơ động bằng mọi phương tiện tùy ứng hoặc đi bộ.
Sự tồn tại, phát triển của trường Đại học Y - Dược kháng chiến và các kỳ thi tốt nghiệp bác sĩ nhanh chóng được giới y học ở nội thành Hà Nội và Paris biết tin. Nhân cuộc gặp gỡ và trao đổi tin tức tù binh của Pháp tại cầu Đuống ngày 4 - 7 - 1947 do lãnh sự Anh, Trevor Wilson làm trung gian, Bác sĩ Huard, đại diện Hội Chữ thập đỏ Pháp, đã nhờ đại diện quân đội ta là Trung úy Điền Ngọc chuyển lời thăm hỏi và bày tỏ sự khâm phục trường Đại học Y - Dược Việt Nam.
Trong những điều kiện vô cùng khó khăn, gian khổ và ác liệt, phải di chuyển nhiều lần, đôi khi cận kề cái chết, Trường Đại học Y - Dược kháng chiến luôn kiên trì phương châm đào tạo: học tập cơ bản - đi chiến dịch - trở về đúc rút kinh nghiệm và bổ túc - rồi lại đi chiến dịch.
Chiến dịch nối tiếp chiến dịch, thầy trò trường Đại học Y - Dược luôn luôn theo sát các đoàn quân chiến đầu trên khắp mọi nẻo đường của Tổ quốc để rồi hội tụ lại tất cả tại chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ. Và trong đoàn quân chiến thắng tiến về giải phóng Thủ đô, các chiến sĩ áo trắng nổi bật lên giữa rừng cờ hoa, giữa hàng vạn người thân, bạn bè, đồng chí, đồng bào nô nức đón chào.








