Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam
Thứ tư, 08/04/2009 00:17 (GMT+7)

Tính trung thực của lịch sử

Vì thế, “môn lịch sử giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong giáo dục chủ nghĩa yêu nước, các giá trị truyền thống và cách mạng, góp phần xây dựng nhân cách, bản lĩnh con người, giữ gìn bản sắc dân tộc” như sự khẳng định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch danh dự của Hội khoa học lịch sử Việt Nam trong thư gửi “Hội thảo bàn về thực trạng dạy và học sử” cách đây hai năm khi xã hội rung chuông báo động về việc học sinh đang chán học môn sử, điểm thi môn sử quá kém. Năm 2006, trong 4622 thí sinh thi vào Đại học Sư phạm Hà Nội, 655 thí sinh bị điểm 0 môn sử (chiếm 15%) và chỉ có 6 thí sinh được điểm 8 trở lên, so với năm 2005 là 103/5399, nếu tính gộp cả bốn trường Đại học, trong đó ba là Sư phạm, nghĩa là trường đào tạo ra những người thầy dạy lịch sử, thì 58,5% thí sinh có điểm lịch sử từ 1 trở xuống. Thế rồi, năm 2007, có 150.234 thí sinh bị điểm 0 đến 4,5 điểm, chiếm tỷ lệ tới 95,74% tổng số thí sinh khối C, số bị điểm 0 gần 6000.

Đã có nhiều phân tích sâu sắc, trong đó, sự phê phán tập trung vào Bộ Giáo dục & Đào tạo (GD&ĐT). Chuyện ấy không oan tí nào. Song, nếu chỉ đổ hoàn toàn cho Bộ GD&ĐT thì liệu có thể giải quyết tận gốc vấn đề học sinh không thích học môn lịch sử không? Sách giáo khoa lịch sử có nhiều vấn đề, điều ấy Bộ GD&ĐT phải chịu trách nhiệm, thế còn những công trình nghiên cứu lịch sử chất lượng kém thì do ai chịu trách nhiệm? Chất lượng của công trình nghiên cứu lịch sử đã được xuất bản là điểm tựa để bảo đảm tính chính xác khoa học lịch sử, là sức hấp dẫn người soạn sách giáo khoa lịch sử. Khi chất lượng ấy có vấn đề thì trách nhiệm thuộc về ai?

Ai chỉ đạo xây dựng những công trình đó, trình độ khoa học và bản lĩnh của nhà sử học có ảnh hưởng gì đến chất lượng công trình lịch sử nước nhà hay không? Không thể đặt bộ môn lịch sử riêng rẽ trong hệ thống kiến thức khoa học mà thế hệ trẻ em cần được giáo dục, khi mà một quan điểm chính thống đã được áp đặt vào việc nghiên cứu và xuấtn bản các công trình nghiên cứu lịch sử và biên soạn các sách giáo khoa lịch sử thì cho dù có không ít những ý kiến không đồng tình cũng không thể xoay chuyển được tình thế chung. Ấy thế mà vấn đề viết sách giáo khoa lịch sử không chỉ nhận được sự quan tâm tán hành hay phản đối về nội dung, sự kiện và quan điểm của công chúng trong nước, mà có khi lại là một cuộc đấu tranh ngoại giao phức tạp giữa các quốc gia từng có những mối quan hệ lịch sử. Chuyện Hàn Quốc phản đối một số nội dung được đưa vào sách giáo khoa lịch sử của Nhật Bản là một ví dụ. Và cũng đừng quên rằng, hiện nay vẫn còn đang diễn ra tình trạng in và lưu hành công khai những xuyên tạc lịch sử nhằm vào những mưu đồ đen tối mà chúng ta không thể không cảnh giác phát hiện và đấu tranh. Chỉ có thể hiểu sâu những điều này khi đặt những công trình nghiên cứu lịch sử và sách giáo khoa lịch sử trong hệ thống các khoa học xã hội và nhân văn, và hệ thống ấy nằm trong nền văn hoá dân tộc. Chỉ khi chúng ta suy ngẫm và hiểu ra được về những gì đã hun đúc nên văn hoá Việt Nam, hình thành cốt cách của con người Việt Nam, chúng ta mới hiểu rõ bộ môn khoa học lịch sử giữ một vị trí quyết định như thế nào trong nền văn hoá ấy.

Bởi lẽ, văn hoá không phải là một hệ thống đóng kín những giá trị loại biệt mà là một tổng hợp đang phát triển của các thành tựu vật chất và tinh thần của một dân tộc. Văn hoá là một cấu trúc có bề sâu. Cuộc sống xã hội được phản chiếu ở bề mặt, dưới bề mặt đó, văn hoá được phân chia theo những tầng khác nhau, tiềm ẩn và vô thức. Ở độ sâu này, ta thấy có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hoá điều chỉnh bề mặt ở bên trên. Nói đến “sức mạnh văn hoá”, “bản lĩnh văn hoá”, “bản sắc văn hoá”, chính là nói đến sự tiềm ẩn và vô thức này nằm chìm trong đời sống của dân tộc. Chính cái đó làm nên ý thức dân tộc, tạo ra sức mạnh Việt Nam , ý thức và sức mạnh làm cho đất nước này, dân tộc này tồn tại và phát triển. Đúng là: lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được.Không có ý thức đó thì không thể có một nền văn hoá dân tộc và cũng chẳng thể nào xây dựng được một xã hội Việt Nam hiện đại và văn minh.

Dòng chảy lịch sử là bất tận, nó tạo nên sức mạnh bất diệt của một dân tộc. Thế hệ trẻ Việt Nam phải được hiểu kỹ về dòng chảy bất tận dó, phải được đắm mình vào trong dòng chảy bất tận đó để tự hào về ông cha mình đã bao đời kiên cường, bất khuất dựng nước, mở nước và giữa nước để trao lại cho thế hệ hôm nay gìn giữ và phát triển. Không có niềm tự hào về dân tộc, tự hào về nền văn hoá dân tộc sẽ không thể vững tin mà đến với thế giới. Ở thời đoạn quá trình phát triển và hội nhập đi vào chiều sâu, càng phải nâng cao sự hiểu biết của thế hệ trẻ về lịch sử, hiểu rõ về ông cha mình, thấy ra được chỗ mạnh và chỗ yếu của dân tộc mình. Trên ý nghĩa đó, việc dạy và học lịch sử, những công trình khoa học lịch sử chất lượng cao có tác động lớn đến việc đào luyện con người, con người Việt Nam hôm nay đang phải đối diện với những thách đố chưa từng có.

Một trong những vấn đề quan trọng nhất, cũng có thể nói đó là điều kiện tiêng quyết để đảm bảo chất lượng công trình nghiên cứu lịch sử, điểm tựa để đảm bảo tính chính xác khoa học của sách giáo khoa lịch sử, tiền đề hết sức quyết định của việc cuốn hút, hấp dẫn và có tác động mạnh liệt đến tình cảm tư tưởng của thế hệ trẻ, giúp vào việc xây dựng nhân cách và bản lĩnh cho thế hệ trẻ, đó là tính trung thực lịch sử. Một khi mà tính trung thực lịch sử của một số công trình đã đến với đông đảo công chúng chưa cao, điều mà phần lớn những nhà sử học có nhân cách đều biết, song cho đến nay, dường như vấn đề này vẫn chưa được đặt ra một cách sòng phẳng, nghiêm túc và minh bạch.

Đương nhiên trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, tính chân lý lịch sử sẽ phải được công bố như thế nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố, song dù chưa công bố thì rồi tính chính xác khoa học của lịch sử sớm muộn cũng phải thể hiện ra. Vì vậy, cùng với việc nâng cao chất lượng sách giáo khoa lịch sử, nâng cao trình độ dạy sử của người thầy và ý thức đối với việc học sử của học trò nhằm bồi dưỡng tình cảm yêu nước và tinh thần dân tộc cho thế hệ trẻ, phải đặt ra vấn đề chất lượng khoa học của các công trình nghiên cứu lịch sử mà ở đó, tính trung thực của tác giả công trình nhằm làm sáng tỏ chân lý lịch sử là điều có ý nghĩa rất quyết định.

Liệu có cần nhắc lại ở đây một khuyến cáo của ông Mitterrand “Thái độ của giới trẻ với lịch sử là thước đo sự tín nhiệm chính trị với chế độ”. Vị Tổng thống đương nhiệm của nước Pháp vàonhững năm 80 của thế kỷ XX ấy, khi sang thăm Việt Nam , đã đến xem xét tận nơi chiến trường Điện Biên Phủ trước đây, biểu thị một ứng xử văn hoá sâu sắc thể hiện thái độ sòng phẳng với lịch sử. Aicũng có thể hiểu được rằng Điện Biên Phủ đã trở thành một sự kiện lịch sử đánh dấu sự thảm bại của một đế chế thực dân, kéo theo sự sụp đổ hệ thống thuộc địa trên thế giới. Sự kiện lịch sử ấy đã đểlại một dấu ấn như thế nào trong lịch sử quân đội Pháp nói riêng và nước Pháp nói chung. Liệu có thể hiểu ứng xử văn hoá ấy của vị Tổng thống Pháp cũng là biểu thị của tính trung thực lịch sử không?Tính trung thực lịch sử ấy lại càng phải đậm nét trong các công trình nghiên cứu lịch sử mà ở đó, thể hiện tập trung trình độ chuyên sâu và bản lĩnh của nhà sử học. Gợi lên hình ảnh trên để khỏi phảinhắc lại chuyện mà hầu như nhà sử học nào cũng biết cả ba anh em người viết sử nước Tề dù rơi đầu dưới lưỡi gươm của Thôi Trữ vẫn không chịu sửa một chữ của sự thật lịch sử là “Thôi Trữ giết vua củamình là Trang Công”. Bản lĩnh ấy của người viết sử, của người nghiên cứu và giảng dạy lịch sử là điều xã hội đang trông chờ.

Phải chăng để đáp ứng sự trông chờ đó mà có Hội thảo khoa học về “Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” ngày 18 và 19 tháng 10 năm 2008 tại Thanh Hoá - nơi phát tích của nhà Nguyễn - nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hoá và sau đó là Quảng Nam, mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc. Đúng như giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam nhấn mạnh: “việc nhìn nhận, đánh giá lại chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn ngày càng trở thành một nhu cầu, đòi hỏi bức thiết, đầu tiên là của giới sử học, sau đó là của tất cả những nhà khoa học xã hội, và trở thành đòi hỏi của xã hội”. Vì rằng, mặc dầu “triều Nguyễn đã để lại một di sản khổng lồ, vĩ đại mà không triều đại nào trong lịch sử có thể sánh được” nhưng ngót một thế kỷ qua, sự thật lịch sử đó đã bị vùi lấp. Đó là một bi kịch lịch sử lớn.

Nguyên nhân của bi kịch ấy có nhiều, song đúng như phân tích của Giáo sư Phan Huy Lê “về sử học thuần tuý, đó là thời kỳ mà nền sử học Macxít đang hình thành, nên sự ấu trĩ, giáo điều, công thức buổi đầu là không tránh khỏi. Cùng với vấn đề phương pháp luận sử học của các nhà nghiên cứu, cần phải nói thêm là thói độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tuỳ tiện quy kết của một số người có quyền, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá đã là nguyên nhân trực tiếp và kéo dài khiến cho nhiều sự thật lịch sử đã không được trình bày một cách khách quan, trung thực. Theo cách nói của Phạm Văn Đồng thì đó là “lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Trong cách nghĩ và cách làm sai lầm này, điều nguy hiểm nhất là bất chấp quy luật của lịch sử”. Với sự nghiệp Đổi Mới, từ sự đổi mới tư duy về kinh tế mà đổi mới về tư duy nói chung để thấy ra sự phi lý của những quan điểm chính thống “quay lưng lại với bao sự thật hằng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những giá đắt phải trả.. Rõ ràng đây là một sự thiếu sáng suốt trong nhận thức và hành động, trong lý luận và thực tiễn” (nt). Những quan điểm gọi là chính thống ấy khi áp đặt vào việc biên soạn sách giáo khoa sử học cũng như từng áp đặt cho các công trình nghiên cứu lịch sử thì “những giá đắt phải trả” là khó có thể đo đếm được.

Khi một cái giả biến thành cái thật, được đem rao giảng cho thế hệ trẻ thì khác nào chất axit gặm nhấm tâm hồn lớp trẻ, làm sao đo đếm được cái chất axit gặm nhấm tâm hồn ấy? Sự thật lịch sử bị vùi lấp, tệ hơn, bị xuyên tạc do nhiều động cơ và nguyên nhân khác nhau, nhưng cho dù bởi bất kỳ lí do gì, thì cũng làm giảm sút hay làm nao núng lòng tin của lớp trẻ vào những trang lịch sử hào hùng của dân tộc, hun đúc nên lòng tự hào dân tộc, chất xi măng kết dính những tâm hồn Việt Nam, tạo nên sức mạnh Việt Nam để phấn đấu bứt lên thoát khỏi nổi nhục nghèo nàn và lạc hậu để sánh vai cùng thế giới. Vả chăng, “văn hoá là nền tảng tinh thần của đời sống xã hội, lịch sử dân tộc với những khúc tráng ca và bi ca có sức lay động mãnh liệt tinh thần và tình cảm của con người Việt Nam mọi thời đại có ý nghĩa quyết định đến nền tảng tinh thần ấy. Đặc biệt khi mà tiến trình phát triển và hội nhập của đất nước đi vào chiều sâu thì việc nâng cao bản lĩnh văn hoá có ý nghĩa hết sức quyết định. Bởi lẽ, với tiến trình ấy cần phải nhận thức được rằng “trước hết không phải là chuyện văn hoá và tư tưởng có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lý dân tộc… đây là sự lựa chọn văn hoá” (Nguyên Ngọc). Sự lựa chọn đó không phải bao giờ mới có. Trong lịch sử đã từng có, ít nhất có thể kể đến hai lần khá tiêu biểu.

Lần thứ nhất là cuối thiên niên kỷ thứ nhất, đầu thiên niên kỷ thứ hai với việc từ bỏ cái gốc Đông Nam Á để tiếp nhận nền văn hoá “Hán hoá”, văn hoá Trung Hoa, nhằm tạo ra một nhà nước mạnh đủ sức chống chọi với hoạ xâm lược đến từ phương Bắc để đến thế kỷ XI, Lý Thường Kiệt có thể dõng dạc tuyên bố “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, khẳng định ý chí độc lập tự cường của dân tộc ta. Lời khẳng định đó được xem như “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ nhất, để dẫn đến “Tuyên ngôn độc lập” lần thứ hai với “Đại cáo bình Ngô” của Nguyễn Trãi. Cuộc chọn lựa khôn ngoan lần thứ hai của Nguyễn Hoàng, đưa đến một đất nước mở rộng với tư duy “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, phi Hán hoá không chỉ về mặt văn hoá, tư tưởng mà còn với sự lùi xa “cương vực” về phía Nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, hình thành một quốc gia lớn mạnh đủ sức cho Quang Trung đại phá quân xâm lược đến từ mọi phía.

Nhân kỷ niệm 450 năm Nguyễn Hoàng mở đầu một thời kỳ phát triển mạnh mẽ của dân tộc, hy vọng rằng “Hội thảo khoa học về chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn” sẽ là một dấu ấn đậm nét về một thời kỳ phát triển mới của ngành khoa học lịch sử, một tín hiệu “tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời”, góp phần nâng cao bản lĩnh văn hoá dân tộc nhằm củng cố “nền tảng tinh thần của đời sống xã hội”.

Xem Thêm

Thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý năng lượng - Giải pháp then chốt giảm phát thải nhà kính
Ngày 17/12, tại phường Bà Rịa, thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM), Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Sở Công Thương TP.HCM, Trung tâm Chứng nhận Chất lượng và Phát triển Doanh nghiệp và Công ty Cổ phần Tập đoàn Vira tổ chức Hội thảo khoa học “Giải pháp thúc đẩy ứng dụng AI trong quản lý, sử dụng năng lượng hiệu quả nhằm giảm phát thải khí nhà kính”.
Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách
Trong hai ngày 12-13/11, tại tỉnh Cao Bằng, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) và Liên hiệp các Hội KH&KT tỉnh Cao Bằng tổ chức Chương trình chia sẻ “Thúc đẩy vai trò của Liên hiệp các Hội KH&KT địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học và thực thi chính sách”.
Thúc đẩy ứng dụng thực tiễn của vật liệu tiên tiến trong sản xuất năng lượng sạch
Ngày 24/10, tại Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp với Hội Khoa học Công nghệ Xúc tác và Hấp phụ Việt Nam (VNACA) tổ chức Hội thảo khoa học “Vật liệu tiên tiến ứng dụng trong sản xuất nhiên liệu tái tạo và giảm phát thải khí nhà kính”.
Dựa vào thiên nhiên để phát triển bền vững vùng núi phía Bắc
Đó là chủ đề của hội thảo "Đa dạng sinh học và giải pháp dựa vào thiên nhiên cho phát triển vùng núi phía Bắc" diễn ra trong ngày 21/10, tại Thái Nguyên do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) phối hợp với Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PANNATURE) phối hợp tổ chức.
Muốn công tác quy hoạch hiệu quả, công nghệ phải là cốt lõi
Phát triển đô thị là một quá trình, đô thị hoá là tất yếu khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Trong kỷ nguyên vươn mình, quá trình đô thị hoá không thể tách rời quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước...
Hội thảo quốc tế về máy móc, năng lượng và số hóa lần đầu tiên được tổ chức tại Vĩnh Long
Ngày 20/9, tại Vĩnh Long đã diễn ra Hội thảo quốc tế về Máy móc, năng lượng và số hóa hướng đến phát triển bền vững (IMEDS 2025). Sự kiện do Hội Nghiên cứu Biên tập Công trình Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASE) - hội thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) phối hợp cùng Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Vĩnh Long (VLUTE) tổ chức.
Ứng dụng công nghệ số toàn diện là nhiệm vụ trọng tâm của VUSTA giai đoạn tới
Ứng dụng công nghệ số toàn diện, xây dựng hệ sinh thái số là bước đi cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả quản trị và phát huy sức mạnh đội ngũ trí thức của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA). Qua đó cho thấy, VUSTA không chỉ bắt kịp xu thế công nghệ mà còn chủ động kiến tạo những giá trị mới, khẳng định vai trò tiên phong của đội ngũ trí thức trong thời đại số.

Tin mới

GS.VS. Châu Văn Minh được trao tặng Huân chương Độc lập
Chiều ngày 3/4, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì buổi Lễ trao tặng các danh hiệu cao quý của Đảng và Nhà nước. GS.VS. Châu Văn Minh, Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Bí thư Đảng ủy VUSTA đã được trao tặng Huân chương Độc lập hạng Ba. Đây là phần thưởng cao quý ghi nhận những đóng góp đặc biệt xuất sắc của ông cho sự nghiệp khoa học và xây dựng đất nước.
Hội Tự động hóa Việt Nam tham dự CMES Shanghai 2026, tăng cường kết nối giao thương quốc tế
Từ ngày 23 đến 26/3/2026, tại Thượng Hải, Trung Quốc, Triển lãm Quốc tế Máy công cụ và Công nghệ chế tạo CMES Shanghai 2026 đã diễn ra sôi động, thu hút sự tham gia của đông đảo doanh nghiệp và chuyên gia trong lĩnh vực cơ khí chế tạo, tự động hóa và sản xuất thông minh trên toàn cầu.
Công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ
Sáng 1/4, tại Hà Nội, Bộ Chính trị tổ chức hội nghị công bố Quyết định của Bộ Chính trị về công tác tổ chức và cán bộ đối với 5 cơ quan. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự hội nghị. Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư trao các quyết định và phát biểu ý kiến chỉ đạo.
Tổng Bí thư Tô Lâm trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo
Chiều 30/3, tại trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã dự lễ trao Huân chương Quân công hạng nhất và Huy hiệu Đảng tặng Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ.
Đổi mới công tác tư vấn, phản biện: “Chìa khóa” để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức
Giới chuyên môn nhận định, chuyển đổi số và AI sẽ tạo bước đột phá cho công tác tư vấn, phản biện nhờ sự giao thoa giữa trí tuệ chuyên gia, sức mạnh dữ liệu cùng các công cụ phân tích hiện đại. Tuy nhiên, thực tế hoạt động tư vấn phản biện hiện chưa theo kịp yêu cầu, đòi hỏi cấp thiết phải làm chủ các nền tảng số và phương pháp phân tích hiện đại để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng và thực tiễn.
Hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”
Ngày 27/3/2026, tại Trường Đại học Hải Phòng đã diễn ra Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề: “Phát triển kinh tế tư nhân ở Hải Phòng trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước”. Hội thảo do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật thành phố, Trường Đại học Hải Phòng, Đại học Phenikaa, Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng đồng tổ chức.
Phú Thọ: Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp
Ngày 28/3/2026, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Phú Thọ phối hợp với Hội Luật gia tỉnh tổ chức Hội nghị tuyên truyền pháp luật và kết quả bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.
Đắk Lắk: Ths. Đoàn Văn Thanh và Ths. Lê Văn Dần được bầu giữ chức Phó Chủ tịch Liên hiệp Hội
Chiều ngày 26/3/ 2026, tại Hội trường cơ quan, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh (Liên hiệp Hội) Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị Ban Chấp hành (mở rộng) với ba nội dung: Thực hiện quy trình công tác cán bộ; Sơ kết công tác quý I, triển khai nhiệm vụ công tác quý II và Trao quyết định công nhận tổ chức thành viên mới.
Gia Lai: Đánh giá kết quả bước đầu thực hiện Dự án Sa nhân tím
Ngày 25/3/2026, xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Gia Lai phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức Hội nghị sơ kết giữa kỳ Dự án “Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu cây dược liệu sa nhân dưới tán rừng cho cộng đồng dân tộc thiểu số góp phần cải thiện sinh kế người dân, bảo tồn hệ sinh thái rừng, thích ứng biến đổi khí hậu tại xã Bình Phú, tỉnh Gia Lai”.
Hội Điều dưỡng Hải Phòng nâng cao chất lượng điều dưỡng, hướng tới sự hài lòng người bệnh
Ngày 25/3/2026, tại Bệnh viện Kiến An, Hội Điều dưỡng thành phố Hải Phòng tổ chức Đại hội Đại biểu lần thứ I, nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đại hội đánh dấu bước chuyển quan trọng sau khi hợp nhất Hội Điều dưỡng Hải Phòng và Hội Điều dưỡng Hải Dương trước đây, tạo nền tảng thống nhất, đồng bộ trong phát triển công tác điều dưỡng trên địa bàn thành phố.