Tìm hiểu sự tương đồng và dị biệt giữa thuật ngữ quân sự Trung Quốc với thuật ngữ quân sự Việt Nam
Còn ta dùng chữ Hán lại đọc theo âm Hán Việt. Trong giao tiếp của những người thuộc các nước khác nhau, tuy tiếng nói khác nhau, nhưng cùng dùng một chữ viết thì có thể hiểu nhau được.
Các từ ngữ và thuật ngữ Hán Việt đã trở thành một bộ phận lớn và quan trọng không thể thiếu được trong tiếng Việt. Trong lĩnh vực quân sự, thuật ngữ quân sự Hán Việt cũng chiếm một tỷ lệ rất lớn, rất gần gũi, tương đồng với thuật ngữ quân sự Trung Quốc từ cổ xưa cho đến các thuật ngữ quân sự đương đại và khó có thể thay thế những thuật ngữ ấy bằng những thuật ngữ khác. Đã có một thời trong quân đội ta (vào khoảng những năm 1975-78), chúng ta đã có chủ trương “Việt hoá” các thuật ngữ quân sự để tránh nói và viết theo những thuật ngữ quân sự Hán Việt, sợ rằng ngoại lai, không giữ được vẻ trong sáng của tiếng Việt. Nhưng thực tế cho thấy, kết quả là “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa”, không đem lại kết quả gì mà phải quay lại dùng các thuật ngữ Hán Việt đã quen dùng. Ví dụ: ở Quân chủng phòng không có thuật ngữ “Điện công”, “Báo vụ”, “Chiến sĩ hữu tuyến điện”, “Chiến cần”… Một thời phải đổi thuật ngữ “Điện công” là “Thợ sử dụng tổ máy phát điện”. Như vậy từ một thuận ngữ quân sự đã quen gọi có 2 tiếng, nay đổi thành thuật ngữ quân sự có tới 7 tiếng, mà nào có thoát khỏi các từ Hán Việt, chỉ được một từ thợ là thuần Việt, còn 6 tiếng là Hán Việt. Ta đã không muốn dùng thuật ngữ có 2 tiếng Hán Việt mà lại dùng thuật ngữ có tới 6 tiếng Hán Việt. Từ “Báo vụ” đổi thành “Chiến sĩ không dây” và “Chiến sĩ hữu tuyến điện” gọi là “Chiến sĩ có đường dây”. Thật chẳng ra làm sao cả. Lại nữa “Chiến cần” là thuật ngữ chỉ 3 thành phần trong sở chỉ huy phòng không gồm đánh dấu, phát thanh, ghi chép, nhưng lại đổi là “Nhân viên sở chỉ huy”. Nếu gọi như vậy thì vừa dài vừa không chính xác, vì nhân viên sở chỉ huy không phải chỉ có 3 thành phần như đã nêu trên mà còn các thành phần khác nữa. Từ một thuật ngữ có hai từ Hán Việt lại đổi thành thuật ngữ khác có tới 5 tiếng Hán Việt, mà nào có trong sáng được gì đâu. Thuật ngữ quân sự cần ngắn gọn, rõ ràng nhưng những thuật ngữ thay thế đều dài và không rõ ràng, đồng thời cũng không thoát li khỏi từ Hán Việt. Những thuật ngữ quân sự của ta hầu hết tương đồng với thuật ngữ quân sự Trung Quốc, nhưng đi sâu vào cụ thể từng lĩnh vực chúng ta cũng thấy có dị biệt, nên cần thận trọng khi dịch các thuật ngữ quân sự Trung Quốc sang tiếng Việt.
Trong quá trình biên soạn Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, chúng tôi đã nghiên cứu tư liệu dịch thuật của các cộng tác viên và những tư liệu của Trung Quốc mà chúng tôi đọc từ các Đại từ điển bách khoa quân sự Trung Quốc, từ điển bách khoa quân sự Trung Quốc, Đại bách khoa toàn thư Trung Quốc…,đã rút ra được một số kinh nghiệm dịch thuật và thấy rằng những người làm nhiệm vụ dịch thuật khi gặp thuật ngữ tiếng nước ngoài thường khó khăn vì tên gọi thuật ngữ với nội dung khái niệm không phải lúc nào cũng thống nhất. Chính vì vậy nếu không am hiểu tường tận chuyên ngành thường dễ bị lầm lẫn. Ví dụ thuật ngữ “Quân” và “Quân đoàn” sử dụng trong quân đội Trung Quốc. Thuật ngữ “Quân” chính là thuật ngữ “Quân đoàn”, còn thuật ngữ “Quân đoàn” thì không phải là “Quân đoàn”. Ta nghiên cứu nội hàm khái niệm của hai thuật ngữ trên qua các mục từ “Quân” và “Quân đoàn” trong Đại Bách khoa toàn thư Trung Quốc, Quân sự quyển 1, xuất bản năm 1989.
Mục từ “Quân” trong đại bách khoa toàn thư Trung Quốctrang 532, viết:
“Quân (army corps), một cấp tổ chức của quân đội do một số sư, lữ cùng với bộ đội chiến đấu, phục vụ bảo đảm tổ chức thành. Thông thường thuộc quân khu (phương diện quân). Là binh đoàn chiến thuật chiến dịch. Vừa có thể thực hiện nhiệm vụ tác chiến trong biên chế của cấp trên, vừa có thể độc lập tác chiến.
Như trên cho thấy, thuật ngữ “Quân” của Trung Quốc chính là thuật ngữ “Quân đoàn” của ta và nhiều nước khác trên thế giới. Khi dịch thuật ngữ này ta không thể dịch là “Quân” mà phải dịch là “Quân đoàn”.
Còn mục từ “Quân đoàn” trong đại bách khoa toàn thư Trung Quốctrang 594 viết: Quân đoàn (army group) có ba nghĩa: 1. Tên gọi chung của phương diện quân và tập đoàn quân. Phương diện quân là quân đoàn chiến dịch chiến lược. Tập đoàn quân là quân đoàn chiến dịch. 2. Thời La Mã cổ, quân đoàn đã từng là tên gọi chung của quân đội, sau trở thành đơn vị xây dựng biên chế cơ bản của quân đội. Từ thế kỷ 16 về sau, có một số nước lấy quân đoàn làm đơn vị xây dựng biên chế cao cấp của quân đội, nhưng biên chế không cố định, thường căn cứ vào tình hình chiến khu và nhiệm vụ mà biên chế tổ chức thành. 3. Hồng quân công nông Trung Quốc trong thời kì chiến tranh cách mạng trong nước đã thành lập hơn 10 quân đoàn, phân biệt do một số quân (hoặc sư) tổ chức thành, thuộc phương diện quân hoặc Hội đồng quân sự Trung ương. Sau khi bắt đầu chiến tranh chống Nhật, Hồng quân công nông Trung Quốc đổi thành Bát lộ quân và Tân tứ quân của quân cách mạng quốc dân, phiên hiệu quân đoàn theo đó mà thủ tiêu”.
Qua đó rõ ràng thuật ngữ “Quân đoàn” của Trung Quốc không tương đương với thuật ngữ “Quân đoàn” của ta và nhiều nước trên thế giới, vậy ta không thể dịch thuật ngữ này là “Quân đoàn” được. Đối chiếu sang biên chế tổ chức quân đội ta thì thuật ngữ này không có tương ứng vì ta không có tập đoàn quân và phương diện quân. Thuật ngữ này có thể tương ứng với thuật ngữ “Liên binh đoàn” của Quân đội Nga. Vậy nên dịch là liên binh đoàn (thực chất là liên binh đoàn binh chủng hợp thành). Cũng như thuật ngữ “Quân đoàn” mà lại không phải quân đoàn, thì thuật ngữ “Sĩ quan” của Trung Quốc cũng lại không phải là sĩ quan mà chỉ là tương đương hạ sĩ quan, còn thuật ngữ “Quân quan” của Trung Quốc mới là sĩ quan (sĩ quan quân đội), thuật ngữ “Võ quan” của Trung Quốc không phải là quan võ, mà là tuỳ viên quân sự.
Thuật ngữ quân sự của ta hầu hết là thuật ngữ Hán Việt, nhưng có nhiều thuật ngữ tuy trùng với tên gọi với thuật ngữ quân sự Trung Quốc nhưng nội hàm lại khác, chúng ta cần tìm hiểu kỹ trong quá trình dịch thuật ngữ quân sự Trung Quốc sang tiếng Việt. Như thuật ngữ quân sự “Bộ đội” của Trung Quốc để chỉ cấp trung đoàn và tương đương, còn thuật ngữ quân sự Việt Nam “Bộ đội” không chỉ cấp trung đoàn và tương đương. Ta dùng thuật ngữ “Binh đội” tương đương với thuật ngữ “Bộ đội” của Trung Quốc. Cũng tương tự như vậy, thuật ngữ quân sự Việt Nam “Bộ tham mưu” thì tương đương với thuật ngữ quân sự Trung Quốc “Tư lệnh bộ”. Từ “Bộ” dùng trong thuật ngữ quân sự của ta và của Trung Quốc cũng có lúc giống nhau, lúc khác nhau. Ví dụ: ta dùng thuật ngữ “Bộ tổng tham mưu”, Trung Quốc dùng thuật ngữ “Tổng bộ tham mưu” (trường hợp này như nhau, thực ra là Tổng bộ nhưng ta quen gọi là Bộ tổng). Ta dùng thuật ngữ “Tổng cục chính trị” nhưng Trung Quốc dùng thuật ngữ “Tổng bộ chính trị” (ở đây Trung Quốc gọi là Tổng bộ mà không gọi là “Tổng cục” như ta). Từ “Bộ” ở Trung Quốc dùng rất rộng, như Trung Quốc gọi chủ nhiệm hậu cần sư đoàn là Bộ trưởng Bộ hậu cần sư đoàn. Nếu không hiểu cơ cấu tổ chức quân đội ta và quân đội Trung Quốc mà dịch nguyên văn thì thật nực cười vì ở ta không gọi chủ nhiệm hậu cần là Bộ trưởng Bộ hậu cần.
Muốn dịch chính xác các thuật ngữ quân sự Trung Quốc không chỉ căn cứ vào từ điển mà còn phải căn cứ vào nội dung khái niệm của từng thuật ngữ, đồng thời phải có tri thức nhất định về chuyên môn quân sự.
Nguồn: Ngôn ngữ & Đời sống, số 11 (121), 2005, tr 9 - 11








